Home / Cầu Nguyện / Lòng thương xót không bỏ rơi những ai bị lãng quên!

Lòng thương xót không bỏ rơi những ai bị lãng quên!

BÀI GIẢNG LỄ CHÚA TÌNH THƯƠNG của ĐTC Phanxicô

Church of Santo Spirito in Sassia, 19 April 2020

Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ

Chúa Nhật tuần qua, chúng ta đã cử hành cuộc phục sinh của Chúa; hôm nay chúng ta chứng kiến sự phục sinh của các môn đệ của Ngài. Đã qua một tuần, một tuần từ khi các môn đệ nhìn thấy Chúa Sống Lại, nhưng thay vào đó, họ vẫn sợ hãi, khép nép sau “những cánh cửa đóng kín” (Jn 20:26), ngay cả đến không có thể chinh phục được Thomas, người duy nhất vắng mặt, về sự phục sinh. Chúa Giêsu đã làm gì trong khi đối diện với sự rụt rè yếu kém niềm tin này? Người trở lại, và đứng cũng tại một chỗ, “ở giữa” các môn đệ, Người lập lại lời chào: “Bình an cho anh em” (Jn 20:19,26). Người bắt đầu lại tất cả. Và sự phục sinh của các môn đệ bắt đầu từ đây, từ sự lòng thương xót trung tín và nhẫn nại này. từ việc khám phá ra rằng Thiên Chúa không bao giờ mỏi mệt trong việc đưa tay ra để nâng chúng ta lên khi chúng ta sa ngã. Ngài muốn chúng ta nhìn Ngài, không phải như một người phân phối những vai trò mà chúng ta được chỉ định, nhưng như một người Cha luôn luôn nâng chúng ta lên. Trong cuộc sống chúng ta đang đi tới một cách không chắc chắn, ngờ vực, giống như một đứa trẻ bắt đầu những bước chập chững và những vấp ngã, vừa bước đi một bước lại ngã, và mỗi lần như vậy cha em lại nâng em đứng lên. Bàn tay luôn nâng đỡ sau lưng chúng ta trên những bước chân chúng ta là lòng thương xót: Thiên Chúa biết rằng ngoài tình thương, chúng ta sẽ nằm bẹp dưới đất, và để tiếp tục bước, chúng ta cần được nâng dậy.    

Anh chị em có thể phản đối: “Nhưng tôi vẫn ngã mà!”. Chúa biết điều này và Ngài luôn sẵn sàng nâng chúng ta lên. Ngài không muốn chúng ta nghĩ đến những lần chúng ta ngã; hơn thế, Ngài muốn chúng ta nhìn lên Ngài. Vì khi chúng ta ngã, Ngài nhìn thấy nhu cầu những người con cần phải được nâng dậy trên đôi chân. Trong những lần chúng ta ngã, Ngài nhìn thấy những người con đang cần đến tình yêu thương xót của Ngài. Ngày hôm nay, trong ngôi thánh đường này, ngôi thánh đường đã trở thành đền thánh của lòng thương xót ở Rôma, và vào Chúa Nhật này, Thánh Gioan Phaolô II đã dâng hiến cho Chúa Tình Thương hai chục năm trước, chúng ta đón nhận thông điệp này một cách đầy tin tưởng. Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: “Cha là tình yêu và lòng thương xót, không có nỗi thống khổ nào của nhân loại có thể đo lường lòng thương xót của Cha” (Nhật Ký, 11 tháng Chín 1937). Vào một lần thánh nữ với lòng sốt sắng đã thưa với Chúa Giêsu rằng chị đã dâng hiến trọn đời mình và tất cả những gì thuộc về mình cho Ngài. Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm cho chị sửng sốt: “Con vẫn chưa dâng hết cho Cha những gì thuộc về con.”  Vậy cái gì vị nữ tu thánh thiện này còn giữ lại cho mình? Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng bảo chị: “Con gái của Cha, hãy dâng cho Cha những tội lỗi của con” (10 tháng Mười 1937). Cả chúng ta nữa hãy tự hỏi: “Tôi đã dâng cho Chúa những tội lỗi của mình chưa? Chúng ta có để Ngài nhìn thấy mình sa ngã để Ngài nâng chúng ta dậy không?” Hoặc có điều gì đó mà ta vẫn giữ kín trong mình? Một tội đã phạm, một hối hận của quá khứ, một vết thương tâm hồn, một mối thù với người nào đó, một ý nghĩ về một người… Chúa chờ đợi chúng ta dâng cho Ngài những yếu đuối của chúng ta để Ngài có thể giúp chúng ta cảm nhận được lòng thương xót của Ngài.   

Chúng ta hãy trở lại với các môn đệ. Các ông đã bỏ rơi Chúa trong cuộc Thương Khó của Ngài và cảm thấy tội lỗi. Nhưng khi gặp các ông, Chúa Giêsu đã không giảng cho các ông một bài giảng dài. Đối với các ông, những người đang mang vết thương trong lòng, Ngài cho các ông xem dấu thương tích của mình. Thomas giờ đây có thể chạm đến những dấu tích ấy và hiểu được tình yêu Chúa Giêsu và Chúa Giêsu đã đau khổ vì ông như thế nào, ngay cả khi ông bỏ rơi Người. Trong những vết thương ấy, ông đã chạm tới sự gần gũi dịu dàng của bàn tay Thiên Chúa.  Thomas đã đến trễ, nhưng một khi ông đã đón nhận lòng thương xót, ông đã bắt kịp các môn đệ khác: ông không tin chỉ duy việc phục sinh, nhưng còn một tình yêu vô giới hạn của Thiên Chúa. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đẹp đẽ và cũng chân thành: “Lạy Chúa con. Lạy Thiên Chúa của con!” (v.28). Ở đây là sự phục sinh của người môn đệ; nó được hoàn tất khi sự yếu đuối và con người bị thương tích của ông đi vào trong những dấu tích ấy của Chúa Giêsu. Ở đó, mọi nghi ngờ được xóa tan; ở đó, Thiên Chúa trở thành Thiên Chúa của con, ở đó, chúng ta bắt đầu chấp nhận chúng ta và yêu mến cuộc sống này như nó hiện hữu.     

Anh chị em thân mến, trong thời điểm thử thách mà chúng ta đang trải quả hiện nay, cả chúng ta nữa, giống như Thomas, đã đang trải nghiệm tình trạng yếu đuối của chúng ta với tất cả sự sợ hãi, và nghi ngờ. Chúng ta cần Chúa, Đấng nhìn thấu tội lỗi này bằng một vẻ đẹp không gì thắng nổi. Với Ngài, chúng ta tái khám phá ra chúng ta quí giá biết bao ngay cả trong những mỏng dòn của chúng ta. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta giống như những chiếc bình pha lê tuyệt đẹp, dễ vỡ nhưng cùng lúc rất giá trị. Và nếu, giống như những bình pha lê, chúng ta trở nên trong suốt trước Ngài, ánh sáng Ngài – ánh sáng của lòng thương xót – sẽ chiếu dọi trong chúng ta và qua chúng ta đến toàn thế giới. Như Thư của Thánh Phêrô đã viết, đó là lý do để được “ tràn ngập niềm vui”, mặc dù giờ đây chỉ trong giây phút nữa chúng ta có thể gặp đau khổ từ nhiều thử thách” (1 Pt 1:6)  

Trong ngày lễ Lòng Thương Xót Chúa, thông điệp đẹp nhất đến từ Thomas, người môn đệ đến trễ; là người duy nhất không có mặt. Nhưng Chúa đã đợi Thomas. Lòng thương xót không bỏ rơi những ai ở lại phía sau.

Giờ đây, trong khi chúng ta nhìn về phía trước với một sự phục hồi chậm chạp và khó khăn của cơn dịch bệnh, một điều nguy hiểm đó là chúng ta có thể quên những người bị bỏ lại phía sau. Điều rủi ro là chúng ta có thể bị tấn công bằng một thứ còn độc hại hơn siêu vi trùng, đó là cái tôi vô cảm. Một virus phát tán với ý tưởng rằng đời sống này sẽ tốt hơn nếu nó tốt hơn đối với tôi, và rằng mọi sự sẽ đẹp nếu nó đẹp đối với tôi. Nó bắt nguồn từ đó và kết thúc bằng việc chọn lựa người này giữa người khác, loại bỏ người nghèo khó, và hy sinh những ai bị bỏ lại phía sau trên bàn thờ của tiến bộ. Tuy nhiên, cơn dịch bệnh hiện nay, nhắc nhở chúng ta rằng không có sự khác biệt hoặc biên giới giữa những người đau khổ. Chúng ta đều cùng chung cảnh ngộ, cùng như nhau, và cùng có giá trị. Ước gì chúng ta có thể bị lay động một cách mạnh mẽ bởi những gì đang xảy ra chung quanh chúng ta: thời điểm đã tới để ngăn chặn những bất quân bình, để chữa lành sự bất công mà nó đang phá hủy sức khỏe của toàn thể gia đình nhân loại! Chúng ta hãy học từ cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi được diễn tả trong Tông Đồ Công Vụ. Nó đã đón nhận tình thương và sống bằng tình thương: “Tất cả những tín hữu hội họp nhau và để mọi sự làm của chung; và họ bán của cải, những gì mình sở hữu và phân phát cho mọi người, tùy theo nhu cầu” (Acts 2:44-45). Đây không phải là điều gì lý tưởng: Nó là Kitô Giáo.    

Trong cộng đoàn này, sau cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, chỉ có người bị bỏ lại phía sau và những người khác đã chờ đợi Ngài. Ngày nay, xem như tương phản: một phần nhỏ của gia đình nhân loại đã tiến về phía trước, trong khi phần lớn vẫn bị lùi lại phía sau. Mỗi người chúng ta có thể nói: “Đây là những vấn đề nan giải, nó không phải việc của tôi lo chuyện này, những người khác cũng phải quan tâm đến nó nữa!” Thánh Faustina, sau khi gặp Chúa Giêsu đã viết: “Trong linh hồn đang đau khổ, chúng ta có thể nhìn thấy Chúa Giêsu trên thánh giá, không phải là một người ăn xin hay một gánh nặng…[Chúa] Ngài cho chúng ta một cơ hội để thực hành những công việc của tình thương, mà chúng ta thực hiện những hành động phán xét” (Nhật Ký, 6 tháng Chín 1937). Vâng, có lần nữ tu này đã phàn nàn với Chúa Giêsu rằng, để thương xót, một người phải nghĩ mình là ngây thơ. Chị đã nói: “Chúa ơi, người ta thường lợi dụng lòng tốt của con”. Và Chúa Giêsu đã đáp lại: “Đừng quan tâm đến điều này, đừng để nó làm phiền con, hãy luôn luôn xót thương bất cứ ai.” (24 tháng Mười Hai 1937). Đối với mọi người, chúng ta đừng chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, những phúc lợi cho mình. Chúng ta hãy đón nhận thời điểm thử thách này như một cơ hội để chuẩn bị cho tương lai chung của chúng ta, một tương lai cho tất cả mà không ai bị bỏ rơi. Bởi vì không có một cái nhìn viễn kiến ôm choàng tất cả, sẽ không có tương lai cho bất cứ ai.  

Hôm nay, tình yêu đơn sơ và tha thiết của Chúa Giêsu đón nhận trái tim người môn đệ của mình. Giống như vị tông đồ Thomas, chúng ta hãy đón nhận tình yêu, ơn cứu độ thế giới. Và chúng ta hãy cho những ai đang yếu đuối nhất thấy tình yêu của chúng ta; vì chỉ có cách này, chúng ta mới xây dựng một thế giới mới. 

 Nguồn: Vaticant.net. Homilies

Vũ Văn An

Đại dịch Covid-19 dạy ta rất nhiều bài học qúy giá, chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lâu trên cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng, quốc gia và cả Giáo Hội nữa. Nhiều nhà bình luận đã bàn về viễn ảnh ấy. Riêng bản thân tôi học được một bài học không hẳn “thiết thực” lắm, nhưng cũng đủ để thấy mối liên kết thân thiết giữa thực tại lịch sử và mầu nhiệm cái học mênh mông.


Cái học mênh mông ở trước mặt ta quả là một mầu nhiệm. Như tôi chẳng hạn, khi Đức Phanxicô nói rằng thời gian lớn hơn không gian, tôi nghĩ ngài nói chuyện ruồi bu, chẳng ăn nhập gì với thực tại, chỉ là một thứ triết lý nói để mà nói. Từ ngày ngài nói câu ấy cho đến nay, có dễ cũng đã 7 năm trời, thực ra tôi không hiểu ngài muốn nói gì.

Thực thế, lần đầu tiên Đức Phanxicô “chính thức” nói câu nói đó, theo Phó Tế Jim Russell (ALETEIA), là trong thông điệp Lumen Fidei (29/6/2013), sau đó trong Thông Điệp Laudato Si’ và trong cả hai Tông Huấn Evangelii Gaudium và Amoris Laetitia.

Trong Lumen Fidei (số 57), Đức Phanxicô viết: “Chúng ta hãy từ khước việc bị tước mất hy vọng hay để cho hy vọng của chúng ta leo lét bởi các giải đáp và giải pháp dễ dãi vốn chặn đứng tiến bộ của chúng ta, ‘phân mảnh’ thời gian và thay đổi nó thành không gian. Thời gian luôn lớn hơn không gian. Không gian làm khô cứng các diễn trình, trong khi thời gian đẩy ta về tương lai và khuyến khích ta tiến bước trong hy vọng”.

Phần đầu dễ hiểu phần sau, từ “phân mảnh thời gian…” trở đi, nghe như một thứ triết lý mây khói, không liên hệ gì tới thực tại. Đúng như Robert P. Imbelli, trong bài The Principled Ambivalence of Pope Francis, nhận định: nhiều người hoài nghi nguồn phát xuất của nó. Chúng có phải là các áp đặt triết lý đúng hơn là các mệnh lệnh Tin Mừng? Họ cũng lưu ý tới tính trừu tượng của nó và cái nghịch lý của việc nó được nói ra từ cửa miệng một Giáo Hoàng luôn tỏ ra không mấy thích các “ý niệm” nguyên tuyền.

Nghiên cứu kỹ hơn, Imbelli cho rằng nguồn gốc nguyên lý kia nằm trong một luận án tiến sĩ không bao giờ được hoàn tất về tư tưởng của Romano Guardini mà linh mục Jorge Mario Bergoglio bắt đầu ở Đức năm 1986.

Đối với Imbelli, hình như Đức Phanxicô “nhẩy sảng”: đang nói thời gian và không gian, nhẩy qua nói thời gian là diễn trình, không gian là quyền lực, không hề đưa ra luận chứng, chỉ khơi khơi khẳng định.

Ta hãy nghe thêm: trong Evangelii Gaudium, Đức Phanxicô cung cấp nhiều chi tiết hơn. Trong số 222, ngài viết: “một căng thẳng không thôi luôn hiện hữu giữa viên mãn và giới hạn. Viên mãn gợi lên ước muốn chiếm hữu hoàn toàn, trong khi giới hạn là một bức tường dựng lên trước mặt chúng ta. Nói một cách đại khái, “thời gian” liên hệ tới viên mãn như nói lên chân trời không ngừng mở ra trước mặt chúng ta, trong khi mỗi khoảnh khắc cá thể liên hệ tới giới hạn như nói lên việc vây khốn (enclosure). Người ta sống lơ lửng (poised) giữa mỗi khoảnh khắc cá thể và chân trời lớn lao hơn, tươi sáng hơn của tương lai không tưởng như nguyên cớ sau cùng lôi kéo chúng ta tới nó. Ở đây, ta thấy nguyên lý đầu tiên cho tiến bộ: thời gian lớn hơn không gian”.

Ngài viết tiếp liền sau đó, ở số 223: “Nguyên lý trên giúp chúng ta làm việc từ từ nhưng chắc chắn, không bị ám ảnh bởi các kết quả tức khắc. Nó giúp chúng ta kiên nhẫn chịu đựng các tình huống khó khăn, hay các thay đổi không thể tránh trong các kế hoạch của chúng ta. Nó mời gọi ta chấp nhận sự căng thẳng giữa viên mãn và giới hạn, và dành ưu tiên cho thời gian. Một trong các lỗi lầm ta thỉnh thoảng quan sát thấy nơi sinh hoạt xã hội chính trị là các không gian và quyền lực được ưa thích hơn thời gian và các diễn trình. Dành ưu tiên cho không gian có nghĩa là điên cuồng mưu toan duy trì mọi sự trong hiện tại, cố gắng chiếm hữu mọi không gian quyền lực và tự khẳng định (self-assertion); nó thủy tinh hóa các diễn trình và mạo muội ghì chặt nó về phía sau. Dành ưu tiên cho thời gian có nghĩa là quan tâm đến việc khởi diễn các diễn trình thay vì chiếm hữu các không gian. Thời gian cai trị các không gian, soi sáng các không gian và làm chúng trở thành các móc xích trong một dây chuyền không ngừng mở rộng, bất khả trở lui. Như thế, điều chúng ta cần là dành ưu tiên cho các hành động nào phát sinh ra các diễn trình mới trong xã hội và mời gọi người khác và các nhóm khác tham gia, những người và những nhóm có thể phát triển chúng tới chỗ sinh hoa kết trái trong các biến cố có ý nghĩa lịch sử. Một cách không lo lắng, nhưng đầy xác tín và kiên trì rõ ràng”.

Trước đây, quả tình tôi không đọc kỹ số 223 của Evangelii Gaudium. Đức Phanxicô biết thế, nên ngài đã một lần nữa nhắc lại nguyên lý ấy trong Laudato Si’, tức Thông điệp của ngài về môi sinh. Có gì liên hệ giữa “thời gian lớn hơn không gian” và môi sinh? Ta hãy đọc lại số 178: “Sự cận thị của nền chính trị quyền lực đã triển hạn việc lồng nghị trình môi sinh đầy viễn thị vào trong nghị trình tổng thể của các chính phủ. Do đó, chúng ta quên rằng ‘thời gian lớn hơn không gian’, chúng ta quên rằng chúng ta luôn hữu hiệu hơn khi sản sinh ra các diễn trình thay vì bám lấy các chức vị quyền lực”.

Chưa hết, hình như biết tôi lơ đễnh, Đức Phanxicô còn nói đến sự tương phản giữa “thời gian” và “không gian” nhiều lần khác nữa. Trong Amoris Laetitia, trong khi kiểu nói “thời gian lớn hơn không gian” nổi bật nhất ở số 3, ta hãy xem ngài nói gì ở đoạn số 261 về việc làm cha mẹ vì số này giúp ta hiểu hơn ngài muốn nói gì ở số 3:

261. Tuy nhiên, ám ảnh không phải là giáo dục. Ta không thể kiểm soát mọi hoàn cảnh mà một đứa con có thể trải qua. Ở đây, điều mãi mãi đúng là ‘thời gian lớn hơn không gian’. Nói cách khác, khởi đầu một diễn trình là điều quan trọng hơn việc khống chế không gian”.

Khẳng định ấy giúp ta hiểu rõ hơn điều ngài nói ở phần dẫn nhập:

3. Vì ‘thời gian lớn hơn không gian’, tôi xin minh xác điều này: không phải mọi cuộc thảo luận về các vấn đề tín lý, luân lý hay mục vụ đều cần được giải quyết thanh thỏa bởi các can thiệp của huấn quyền. Việc thống nhất giữa giáo huấn và thực hành chắc chắn là điều cần thiết trong Giáo Hội, nhưng điều này không loại trừ các cách giải thích đa dạng một số khía cạnh của giáo huấn ấy và từ đó rút ra một số hệ quả. Điều này luôn luôn đúng vì Thần Khí hướng dẫn chúng ta hướng về sự thật toàn vẹn (xem Ga 16:13), cho tới khi Người hướng dẫn ta vào mầu nhiệm Chúa Kitô một cách trọn vẹn và giúp ta thấy mọi sự như Người thấy”.

Covid-19

Đức Phanxicô dọn cỗ sẵn để tôi hiểu ý nghĩa thực sự của nguyên lý “thời gian lớn hơn không gian”. Nhưng tôi đã bỏ qua, cho tới khi vì Covid-19, không gian của tôi buộc phải thu hẹp hẳn lại, dù có muốn, tôi cũng không được ai cho phép tự do lui tới những không gian quen thuộc, đừng nói chi đến việc mở rộng thêm. Tôi chỉ còn một không gian rất nhỏ và một thời gian vẫn còn mênh mông phía trước, ít nhất cũng “mênh mông” hơn không gian hiện nay của tôi nhiều.

Tôi không còn chia sẻ không gian với nhiều người như trước. Ở những nơi tôi đã đi qua: Việt Nam, Tân Gia Ba, Mã Lai Á, Ai Cập, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Ý, Vatican, Bosnia, Croatia, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan…

Ở Úc này, tôi đã được chia sẻ không gian với các cư dân Victoria, Canberra, Tasmania, Queensland. Riêng ở New South Wales, nhờ mỗi kỳ nghỉ hàng năm đi cùng đại gia đình, tôi chia sẻ không gian với rất nhiều cư dân thuộc South Coast và North Coast.

Bây giờ thì không gian của tôi phần lớn bị giới hạn ở mảnh đất hơn 6 trăm mét vuông. Dù sau này, Covid-19 có qua đi, thì viễn tượng không gian thu hẹp dần vẫn là viễn tượng mỗi ngày một đúng hơn đối với tôi. Cuối cùng, may lắm tôi có được chiếc giường mấy mét vuông ở một bệnh viện nào đó. Nơi mình khổ công xây dựng bấy lâu cũng sẽ không còn.

Nhưng thời gian thì tôi vẫn còn, có khi dư nữa, ít nhất là lúc này. Và thời gian thì không ai lấy được của tôi. Tôi có thể sử dụng nó cho riêng mình và tôi có thể sử dụng nó cho người khác.Tùy ở tôi. Nghĩ cho cùng, chỉ có thời gian mới thực sự cho tôi tự do.

Thời gian giúp tôi vượt không gian. Thực vậy, ở cái không gian hạn hẹp giữa 4, 5 bức tường nhà và tường rào, tôi vẫn có thể, trong một giây, vượt không gian mênh mông, hiệp thông với mọi tín hữu khắp hoàn cầu, cùng một lúc, “tham dự” Thánh Lễ và cầu nguyện với vị Đại diện Chúa Kitô ở trần gian.

Có người bảo dự thánh lễ trực tuyến đâu bằng dự thánh lễ bí tích. Tôi biết thế chứ. Nhưng không gian nhỏ hơn thời gian. Tôi biết làm sao. Tôi đâu làm gì để mở rộng không gian. Nhưng tôi toàn quyền dành thời gian của tôi, vượt không gian, “thông công” cùng mọi tín hữu khác, trong một hành động cùng một lúc thờ phượng Thiên Chúa. Không phải 2 hay 3 người, mà là hàng tỉ người! Trước đây, có bao giờ nghĩ tới làm điều này, quả tình, “thời gian lớn hơn không gian”.

Cũng chính cái lúc không gian thu nhỏ dần và thời gian lớn lên dần này, tôi mới chịu đọc lại nguyên tắc ấy theo giảng giải của chính Đức Phanxicô và mới ngộ ra chân lý của nó.

Điều quan trọng là khởi diễn các diễn trình, mà diễn trình là hàm số của thời gian. Đời sống ta, đời sống bản thân và đời sống cộng đoàn, ơn gọi ta, ơn gọi thánh hiến hay ơn gọi hôn nhân tất cả đều là 1 diễn trình. Chỉ có trên diễn trình ấy, ta mới hiểu như Đức Phanxicô rằng không ai tốt và xấu hoàn toàn, xấu không có nghĩa là không tốt, có khi chỉ là chưa tốt, hay mới chỉ tốt chút xíu, y hệt như hôn nhân “hợp lệ” (regular) và hôn nhân “bất hợp lệ” (irregular) trong Niềm Vui Yêu Thương (296-300): chúng không mâu thuẫn nhau như người ta thường nghĩ. Đã đành theo Giáo Luật, chúng mâu thuẫn nhau. Đức Phanxicô chấp nhận nhị phân này, nhưng ngài hạ thấp chúng xuống bình diện tiếng Anh gọi là subcontrary opposition. Từ điển VNDIC.NET dịch “subcontrary” là “hơi trái nghĩa” trong khi từ điển Merriam-Webster giả thích là “a proposition so related to another that though both may be true they cannot both be false” (một tuyên bố liên hệ với nhau đến nỗi dù cả hai có thể đúng, chúng không thể sai cả hai).

Có người đưa ra thí dụ: mâu thuẫn là “đen” và “không đen”. Nhưng trong chùm “đen” đối với “trắng”, “trắng” chỉ tách xa ra khỏi “đen” chứ không hẳn là “không đen”, thành thử không phải mọi điều “không đen” đều là không đen, nó vẫn có thể là xanh dương, xanh lá cây, hay đỏ.

Đức Phanxicô vẫn coi những cuộc hôn nhân “bất hợp lệ” là “bất hợp lệ” nhưng khi ngài để chữ bất hợp lệ trong ngoặc đơn thì chữ này không nên hiểu theo nghĩa tĩnh tụ mà là nghĩa năng động của một điều đang chuyển động, đang trên một hành trình, tuy có tách ra xa “hợp lệ” nhưng không hẳn là “bất hợp lệ”, rất có thể vừa bất hợp lệ vừa hợp lệ. Dù sao ngài tin Thiên Chúa vẫn đang yêu thương họ.

Giống hệt câu kết luận của Đức Tổng Giám Mục Anthony Fisher, trong bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh năm 2020: nói với những người chưa tin Chúa Kitô, ngài bảo “bất luận bạn tin Người hay không, nhưng Người tin bạn; bất luận bạn có yêu Người hay không, Người vẫn yêu bạn”. Đời người là một diễn trình, hàm số của thời gian. Kiên nhẫn hành trình, chân trời luôn mở ra, hướng tới viên mãn.

Trái lại, bám vào nơi chốn, dừng tại một chỗ, quả là điên rồ, vì nơi chốn, dù có vẻ cố định hơn thời gian, thực ra cũng không cố định gì. Với tôi, quả như lời Thánh Kinh, đến “nơi nó sinh ra cũng chẳng còn vết tích”. Nơi tôi sinh ra, tôi rời bỏ lúc lên 15 để gia nhập chủng viện Chân Phúc Liêm Hải Phòng. Rồi rời bỏ Hải Phòng, tôi vào Bến Saint Jacques, rồi Mỹ Tho, rồi Sài Gòn, rồi Đà Lạt, rồi Sàigòn trở lại, rồi đi tù 1975, rồi về lại Sài Gòn, sau đó qua Singapore, rồi Úc. Có chỗ nào cố định?

Thời gian, dĩ nhiên, cũng chẳng cố định gì hơn. Hồi học tâm lý với linh mục Trần Văn Hiến Minh ở Trung học Bùi Chu, gần Nhà Thờ Huyện Sĩ, tôi nhớ mãi bài luận văn: không ai tắm trong cùng một dòng sông. Thời gian lúc trước khác với thời gian lúc sau. Thời gian luôn chuyển động, rời bỏ. Nhưng đó là điều Đức Phanxicô gọi là khoảnh khắc cá thể. Ngài bảo ta đừng “phân mảnh” thời gian thành những khoảnh khắc ấy, những khoảnh khắc ngài coi tương đương với không gian. Nếu tôi không lầm ngài hiểu thời gian đây là Kairos tức thời gian như một chân trời viễn tưởng luôn mở ra trước mắt chúng ta và chúng ta luôn hướng tới nó đến lúc đạt được viên mãn, trong khi những khoảnh khắc cá thể là Chronos, tức thời gian đong đếm được, trong đó, ta chỉ thấy giới hạn.

Nói thế, tôi vẫn muốn không gian của tôi được mở rộng như đầu năm 2020, không bị giới hạn nặng nề như hiện nay vì Covid-19 mà có người gọi là Covid-Tầu.

(vietcatholic.net)

Bài mới

Cách thức để loại bỏ những suy nghĩ xấu

27/04/2020 Lm. Alain BandelierQuang Sáng dịch từ aleteia WHĐ – Bất cứ ai cũng có …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *