Home / Hội Dòng / Linh Đạo /  Thực hành Linh đạo Dòng: MANG ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

 Thực hành Linh đạo Dòng: MANG ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

MANG ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

Đề tài tìm hiểu của chúng ta hôm nay là MANG ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI, nằm trong  chương trình Bồi dưỡng Linh đạo dòng của năm nay.

Mang Ơn Cứu Độ Đến Cho Mọi Người vừa là một trong 4 yếu tố của Linh Đạo dòng, và đó cũng chính là Sứ mạng của Dòng.

Để có cái nhìn thống nhất về đề tài này, chúng ta  nhắc lại ở đây 4 yếu tố của Linh đạo dòng, hay nói cách đơn giản hơn, con đường nên thánh của chị em Mân Côi là : 1/ Sống tinh thần đức ái trọn hảo; 2/ sùng kính Mẹ Maria và phép lần hạt Mân Côi; 3/ sống các mầu nhiệm cứu độ; 4/ cuối cùng là mang ơn cứu độ của Chúa đến cho mọi người.

Trong đợt chia sẻ này, chúng ta đào sâu yếu tố thứ 4 trong Linh đạo dòng, là “Mang Ơn Cứu Độ đến cho mọi người”, với 4 phần như sau:

  • Về Ơn Cứu độ
  • Việc Rao giảng Tin mừng
  • Sứ vụ truyền giáo của Dòng
  • Bước đường truyền giáo của người tông đồ

 VỀ ƠN CỨU ĐỘ

Trước khi nói đến việc “Mang ơn Cứu độ đến cho mọi người”, chúng ta cần nhắc lại cách vắn tắt về Ơn Cứu Độ, như một khái niệm nền tảng.

Trong đời sống đức tin, Phụng vụ cũng như tu đức, có lẽ không có cụm từ hay khái niệm nào được nói đến nhiều bằng từ Cứu độ. “Ơn cứu độ”, hay cũng gọi là ơn cứu chuộc, ơn cứu rỗi, diễn tả một hồng ân căn bản và vô cùng trọng đại trong đạo.

Lời hứa Cứu Độ được ban cho nhân loại sau sa ngã của Nguyên tổ loài người, được Thánh Kinh ghi lại trong sách Sáng thế chương 3 câu 15. Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa  không nỡ để con người bị thống trị bởi tội lỗi và sự chết, nhưng hứa sẽ đến cứu độ, giải thoát con người khỏi ách tội lỗi và những hậu quả của tội là sự chết. Ơn Cứu độ được thực hiện bởi “dòng giống người đàn bà”, sẽ “đạp đầu con rắn”…

Ơn Cứu độ là công trình do Đức Giêsu Kitô thực hiện qua các mầu nhiệm cuộc đời Người: công cuộc Nhập Thể, nhất là cuộc Tử nạn và Phục sinh, được thực thi với lòng yêu mến và vâng phục Ý muốn của Thiên Chúa Cha. Người là Đấng cứu độ duy nhất của loài người. Ngoài Đức Kitô, không một ai có thể đem lại ơn Cứu độ cho loài người, và chúng ta lại càng không thể tự mình được cứu độ. Nhờ công trình Cứu độ mà Đức Giêsu đã giải thoát con người khỏi hậu quả của tội là đau khổ, sự dữ và cái chết, gây nên bởi tội kiêu ngạo và bất tuân của Nguyên Tổ. Người chữa lành bản tính hư hỏng của loài người để đưa chúng ta vào đời sống mới của ân sủng.

  • Lãnh nhận ơn Cứu độ

Ơn Cứu độ đã được Đức Giêsu đã thiết lập, nhưng không có nghĩa là mọi người một cách tự động sẽ được lãnh nhận ơn cứu độ, sẽ được tha thứ tội lỗi mà không có sự cộng tác, thông phần vào công trình ấy của Người. Và hiển nhiên rằng chúng ta không thể mang ơn Cứu độ đến cho người khác khi chính mình không được lãnh nhận ơn Cứu độ.

Để được hưởng ơn cứu độ, Giáo hội đề nghị cho chúng ta những phương thế như:

a. Sống đức tin, cậy, mến đối với Chúa.

Đó là những điều kiện tiên quyết để được đón nhận ơn Cứu độ. Sách Giáo lý Công giáo đã xác định: “Tin vào Đức Giêsu Kitô và vào Đấng đã sai Người đến cứu độ chúng ta, là điều cần thiết để được ơn Cứu độ” (GLCG 161), dựa vào Lời Chúa trong Tin Mừng Mc 16,16 :… “Ai tin và chịu Phép Rửa, sẽ được cứu độ. Ai không tin thì sẽ bị kết án”.

Đức Tin đưa chúng ta đến tin nhận và hiệp nhất với Thiên Chúa, và với Đức Kitô là nguồn ơn Cứu độ. Đức Cậy là niềm cậy trông vào tình thương của Thiên Chúa, Đấng đã ban Con Một xuống thế để cứu chúng ta khỏi tội. Đức Mến là sự đáp trả tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, bằng lòng tin mến và gắn bó nên một với Người, để được lãnh nhận ơn Cứu độ.

b. Lãnh nhận các bí tích

Để đón nhận ơn Cứu độ, trong thực hành, chúng ta cần lãnh nhận các bí tích, mà quan trọng hơn cả là bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể. Qua bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu cam kết từ bỏ tội lỗi, ma quỷ, nhờ đó được phục hồi tư cách làm con Thiên Chúa đã mất do tội Nguyên Tổ, được sống trong tương quan thân thiết với Người. Bí tích Thánh Thể hợp nhất ta với Đức Giêsu Kitô nhờ việc chúng ta tiếp nhận Mình và Máu người, và hợp nhất chúng ta với anh em là các chi thể của Người. Ngoài ra bí tích Hoà giải cho chúng ta quay trở về với Thiên Chúa, sống trong tình yêu phụ tử mỗi khi chúng ta trót xúc phạm đến Người (Lc 15,20).

c. Hiệp thông với Giáo hội

Theo niềm tin Công giáo, thì Ơn cứu độ được ban qua Giáo hội. Sách Giáo lý khẳng định cách mạnh mẽ rằng: “Chỉ nhờ Giáo hội Công giáo của Chúa Kitô, phương thế phổ quát của ơn Cứu Độ, mới có thể đạt được sự tròn đầy của các phương tiện ơn Cứu độ” (GLCG số 817). Chúng ta cần hiệp nhất với Giáo hội để được lãnh nhận những ơn thánh sung mãn Đức Giêsu Kitô ban cho chúng ta qua Giáo hội. Đồng thời, là thành viên trong Giáo hội, chúng ta phải gắn bó với Giáo hội, gắn bó với các phẩm trật bằng lời cầu nguyện và vâng phục, và chung tay xây dựng để Giáo hội được phát triển và hưng thịnh.

Nhờ những phương thế này, chúng ta trông chờ được hưởng nhờ ơn Cứu độ, được sống trong ân sủng của Người.

II- VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG

Mang ơn Cứu độ đến cho mọi người

Sứ mạng của Đức Giêsu là xuống thế cứu độ nhân loại, đem lại ơn cứu độ cho muôn người. Người mời gọi các tông đồ và hết các môn đệ mọi thời mọi nơi cộng tác với Người trong sứ mạng này. Để thi hành sứ mạng, Đức Giêsu đã sai các môn đệ ra đi, Rao giảng hay Loan báo Tin Mừng, là nói cho mọi người biết về Tin mừng Cứu Độ của Người, Tin mừng rằng Thiên Chúa yêu thương con người, và muốn cứu con người khỏi ách của tội lỗi và sự chết; và đồng thời loan báo những cách thức để đón nhận ơn Cứu độ.

Mục đích việc rao giảng là để tất cả muôn người được nhận biết Thiên Chúa, được lãnh nhận ơn tha thứ và được hưởng ơn Cứu Độ; nhờ vậy, người môn đệ có thể mang ơn Cứu độ đến cho mọi người. Công việc này Giáo hội cũng gọi là việc truyền giáo.

1. Lệnh truyền của Chúa:

Công việc truyền giáo không là sáng kiến của chúng ta, nhưng là một bổn phận phát xuất từ lệnh truyền của Chúa. Đức Giêsu sau khi phục sinh, đã uỷ thác cho Hội Thánh nhiệm vụ loan báo Tin mừng: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điền Thầy đã truyền cho anh em. (Mt 28, 19).

Đức Thánh Cha Phaolô VI tại công đồng Vatican đã phát biểu : ” Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Chúa, cho ngày sau được cứu rỗi, nhưng chúng ta cũng sống ở trần gian này còn để giúp người khác yêu mến và nhận biết Thiên Chúa, để họ cũng được ơn cứu độ như chúng ta”. 

Lời Chúa nói với chúng ta: Ta đặt ngươi làm ánh sáng cho muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất (Is 49,6).

Sứ mạng trở thành ánh sáng và đem ơn cứu độ đến cho muôn dân, vẫn còn liên tục được thực hiện, qua mọi Kitô hữu đã lãnh nhận phép Thánh Tẩy và bí tích Thêm sức làm con Thiên Chúa, và đặc biệt qua những con người mà Chúa đã tuyển chọn trở nên môn đệ của Chúa. Giáo luật nhắc nhở đó là nghĩa vụ đặc biệt của các người thánh hiến: “Những người đã tuyên khấn các Lời Khuyên Phúc Âm, họ có nghĩa vụ đặc biệt lo làm việc truyền giáo, theo cách thức riêng của Tu hội mình” (x. Can 783)

2. Chúng ta được “Sai đi

Lệnh truyền của Chúa đã được ban bố, nhưng Lời Chúa sẽ chẳng vang vọng lên được nếu không có người rao giảng, như Thánh Phaolô nói : “Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao rao giảng, nếu không được sai đi? (Rm 10,14-15).

Tin Mừng Marco ghi lại : Đức Giêsu gọi nhóm 12, những môn đệ thân thiết của Người mà Người gọi là Tông đồ, “đến ở với Người và để Người sai đi”.

Được sai đi cũng là ơn gọi của mọi Kitô hữu, nhưng nhất là của những người thánh hiến đã hiến dâng cuộc đời cho việc phụng sự Nước Trời. Chúng ta, những người thánh hiến đã hiến dâng cuộc đời cho việc phụng sự Nước Trời, chúng ta cũng là những người tông đồ, những người được Chúa chọn và sai đi, như Người đã chọn nhóm 12.

Những cách thức thực thi việc Rao giảng Tin Mừng

Người tông đồ có thể thi hành sứ vụ bằng nhiều phương thức: bằng cầu nguyện, bằng lời rao giảng, bằng chứng tá, bằng những hy sinh dấn thân trong sứ vụ, và cả bằng những thinh lặng trong hy sinh nguyện cầu ở tuổi đã xế chiều.

  • Cầu nguyện:

Phương thế thứ nhất để Rao giảng Tin mừng cho có hiệu quả là cầu nguyện.

Tin Mừng cho chúng ta biết, trong đời sống công khai, Đức Giêsu đã ưu tiên dành nhiều thời khắc cho việc cầu nguyện. Người cầu nguyện mỗi đêm hoặc vào lúc sáng sớm : “Sáng sớm, Người đến nơi thanh vắng để cầu nguyện”, cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt, Người cầu nguyện với Chúa Cha suốt đêm trong vườn Dầu trước khi đi vào cuộc khổ nạn…

Người tông đồ phải cầu nguyện gấp 2 : cầu nguyện như một Kitô hữu, và còn phải cầu nguyện cho những công việc tông đồ của mình nữa.

ĐGH Biển Đức XVI đã nhắn nhủ : “Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, cả đời không đi đâu truyền giáo, chỉ ở trong bốn bức tường dòng kín cầu nguyện cho việc truyền giáo. Thế mà Giáo Hội đã tôn phong ngài là quan thầy các nơi truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê”.

  • Lời nói :

Việc rao giảng còn phải bằng lời nói. Đức Giêsu cũng đã miệt mài rao giảng Tin Mừng, Ngài giảng dậy trong các hội đường (Mc 1,22), trong nhà (Mc 2,1),  ngoài bãi biển  (Mc 1,4), và trong sa mạc (Mc 6, 32.34)…; Ngài dùng dụ ngôn để giảng dậy dân chúng về Nước Trời (Mc 4,2).

Thánh Phaolô ý thức về nghĩa vụ rao giảng khi nói: “ … khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16), và nhắn nhủ người môn đệ Timôthê : “… hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,1-2).

  • Làm chứng tá

Tức là Rao giảng bằng chính đời sống chứng nhân của mình. Đây là cách truyền giáo tốt nhất và hữu hiệu nhất. Đời sống là ngôn ngữ hiệu nghiệm hơn cả lời nói. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, số 41) đã nhắn nhủ rằng: “Thế giới hôm nay đã chán chạy theo các ông thày, nhưng họ sẵn lòng đi theo các chứng nhân, và nếu họ có nghe những nhà giảng thuyết là chỉ vì những nhà giảng thuyết là những chứng nhân”..  Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 cũng nói cách xác tín : “Ngày nay, Giáo hội cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy”.

  • Thinh lặng và cầu nguyện

Còn một cách thức rao giảng Tin Mừng nữa rất có kết quả, đó là đời sống thinh lặng và cầu nguyện, hỗ trợ hậu phương cho các hoạt động của các thừa sai tại các cánh đồng truyền giáo.

Một tấm gương sáng chói đang hiển hiện truớc mắt Giáo hội là đời sống âm thầm cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng về hưu Biển Đức XVI. Một cách vắn tắt nói về người, chúng ta nhắc đến lời chứng của Đức Giám mục Gänswein, thư ký riêng của người trước đây, đã viết :  “Sự hiện diện của Giáo hoàng Danh dự rất thinh lặng và rất được nhiều người yêu mến, nhất là ngài tích cực trong lời cầu nguyện. Không nói, nhưng ngài nói qua thinh lặng mà tôi nghĩ điều này hữu ích cho nhiều người, hữu ích cho Giáo hội và cho dân của Chúa”.

III- SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO CỦA DÒNG

Mang ơn Cứu độ đến cho nọi người” là Đặc sủng và sứ mạng truyền giáo của Dòng. Sứ vụ dòng Mân Côi theo ý hướng Đức Cha Tổ Phụ, là hiến thân cho việc tông đồ truyền giáo, qua việc loan báo Tin Mừng và giáo dục đức tin, để mang ơn cứu độ của Chúa đến cho mọi người.

  1. Truyền giáo theo tinh thần và giáo huấn của Đức Cha Tổ phụ

Đức Cha đã vạch ra con đường phục vụ và tông đồ của Hội dòng ngài, được xác định trong Hiến pháp tiên khởi ngài soạn thảo về sứ vụ của Dòng như sau:

”Mục đích tuỳ, cũng là mục đích riêng dòng, là để giúp việc truyền giáo, bằng sự giáo huấn, đào luyện các trẻ ở các trường nữ trong các xứ, các họ; bằng sự xem sóc lo lắng cho các kẻ liệt ở các nhà thương, hay là các trẻ mồ côi.”[1]

Đào sâu tinh thần và giáo huấn của Đức Cha, chúng ta ghi nhận những ý hướng căn bản của ngài về Đặc sủng Dòng như sau : 

  • Đối tượng ưu tiên là những người nghèo khổ

Ý hướng này của Đức Cha Tổ Phụ được xác định rất rõ trong lời dặn các « Bà tập » :

Bà hãy làm cho các chị biết trọng và mến ơn thánh kêu gọi mình, dậy cho các chị hiểu cái sứ mệnh dậy dỗ các trẻ con bất cứ giầu nghèo, mà càng con nhà nghèo càng đáng ta thương mà dậy dỗ, và giúp đỡ người ốm đau tàng tật trong các bệnh viện, nuôi nấng những kẻ mồ côi cô độc là một sứ mệnh rất tốt đẹp. Chúa sẽ dành phần thưởng rất quý trọng cho những kẻ hy sinh làm việc ấy là thể nào!”[2]

  • Thao thức mang ơn cứu độ đến cho lương dân

Ngài quan tâm rất nhiều đến việc rao giảng Tin Mừng cho lương dân:

“Dậy đạo mới ở các nhà giáo cũng là một mục đích của nhà dòng.”[3]

“Khi nghe nhà nào có người ốm nặng, nên liệu thế làm ơn, cho họ thuốc men mà khuyên giở lại, và dậy họ những sự cần kíp; rồi như thấy họ nguy, thì rửa tội cho họ. [4]

  • Giáo dục là sứ vụ chính trong việc tông đồ truyền giáo

Trong các việc tông đồ truyền giáo của Dòng, việc giáo dục là bổn phận chính. Chị em thực thi sứ mệnh giáo dục trong nhiều lãnh vực : đức tin, văn hoá, nhân bản, nghề nghiệp… tại các xứ đạo, nhà trường cũng như các môi trường xã hội khác.

Cuốn Thói lệ, Lễ phép nhà dòng Con Cái Đức Bà Mân Côi Bùi Chu, có viết:

“Mục đích riêng dòng Con Cái Đức Bà Mân Côi, trước hết là sự dậy học ở các trường nữ trong các xứ, các họ.”(TL, I, VIII; GSD I, tr. 531)

« Chính phận sự là dậy trẻ nữ, và xem sóc trông nom các đoàn Nghĩa binh, Trung binh nữ, và các Hội khấn nữ.” (TL173; GSD I, tr. 116)

  • Lãnh vực tông đồ từ thiện và xã hội

Ngoài lãnh vực giáo dục, chị em cũng dấn thân trong những nhu cầu khác của người nghèo khổ đau bệnh trong xã hội, và theo thúc đẩy của Thánh Linh qua lời mời gọi của các bề trên.

“Chị em cũng có thể giúp các nhà thương hay là nhà dục anh trong địa phận[5]

“Những chị em bề trên bổ đi xem sóc nhà thương hoặc nhà dục anh… phải tìm dịp mà nói đến sự đạo cho người liệt ngoại giáo; đến giờ lâm chung liệu sao cho họ được rửa tội; trẻ con bên lương đưa vào nhà thương cũng thế, nếu không trông sống thì rửa tội cho nó” [6]

Theo đức cha Tổ Phụ, mỗi sự hiện diện của chị em là một sứ vụ, mỗi hoạt động, mỗi bổn phận chị em thi hành trong đời sống ơn gọi Mân Côi, thì cũng phải được thực hiện với sứ mệnh là đem ơn cứu độ của Chúa đến cho mọi người.

2. Truyền giáo theo đặc sủng Dòng

Hiến luật dòng đã khẳng định:“Bước vào đời sống thánh hiến, chị em lãnh nhận sứ mạng tông đồ của Hội dòng qua đặc sủng của Đấng Sáng lập, để tham dự vào sứ vụ của Giáo hội tiếp nối sứ vụ của Đức Kitô” (HL 39.1).

Mỗi người chúng ta, những người tông đồ Mân Côi đều có sứ mạng là cộng tác vào việc truyền giáo của Giáo hội (HL 4). Hiến luật số 40.1 xác định rõ sứ mạng tông đồ của chị em Mân Côi như sau :

“…Chị em Mân Côi tham gia vào sứ mạng tông đồ của Giáo hội trong các lãnh vực : mục vụ giáo xứ, giáo dục, y tế, từ thiện và xã hội. Ngoài ra… chị em quan tâm đặc biệt đến việc loan báo Tin mừng cho những người chưa tin” HL 40.1 

Trung thành với ý hướng và giáo huấn ban đầu của Đức Cha Tổ phụ về sứ mạng truyền giáo của dòng, Hiến luật số 40.4 xác định sứ vụ tông đồ của chị em cụ thể như sau :

  • Phục vụ giáo xứ, ưu tiên cho việc dạy giáo lý và phụ trách các hội đoàn thiếu nhi
  • Giáo dục thanh thiếu niên, đặc biệt các thiếu nữ, trong các lãnh vực đức tin, luân lý và văn hoá
  • Tham gia công tác ý tế, từ thiện, xã hội, đặc biệt hướng đến những người nghèo khó, bị bỏ rơi
  • Loan báo Tin mừng cho lương dân, dạy giáo lý dự tòng.
  • Thực thi sứ mạng Tông đồ truyền giáo

Chị em thực thi sứ mạng bằng những phương thức truyền thống như sau:

  • Truyền giáo bằng lời nói

Hiến pháp tiên khởi dòng nhắc nhở chị em: Trong khi làm việc tông đồ, chị em phải tìm cách nói về Chúa cho mọi người; cách riêng “Phải tìm dịp mà nói đến sự đạo cho người liệt ngoại giáo” (HPTK số 113) Chúng ta thường có cơ hội nói về Chúa trong các lớp Giáo lý, các giờ huấn đức, trong các giờ giảng dạy, trong lớp học…, hoặc những cơ hội khuyên bảo an ủi những người gặp nghi nan, thử thách.

  • Truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh trong bổn phận

Hiến luật Dòng có nói: “Chị em xác tín rằng việc tông đồ có hiệu quả trước hết nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, nhờ những hy sinh dấn thân trong bổn phận, và tuỳ mức độ chị em gắn bó với Chúa trong cầu nguyện, nhất là chiêm ngưỡng tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu nơi bí tích Thánh Thể là nguồn mạch đời hiến dâng và phục vụ của chị em…” (HL 41.2)

  • Truyền giáo bằng đời sống chứng tá:

Hiến luật dòng 40.2 tóm tắt những cách thức rao giảng của chị em Mân Côi như sau :

“Chị em thực thi sứ mạng tông đồ bằng đời sống chứng tá qua việc sống đời sống thánh hiến cách trung thành vui tươi, qua việc thực thi đức ái trong cộng đoàn, qua các việc lành và gương sáng của chị em; bằng lời rao  giảng, giáo huấn trong các môi trường chị em phục vụ; bằng lời cầu nguyện cũng như những hy sinh âm thầm trong cuộc sống”.

 Hiến luật số 42 chỉ dẫn chúng ta : Tự bản chất, đời sống thánh hiến bao gồm những giá trị Tin Mừng. Vì thế, chính sự hiện diện và đời sống gương mẫu của chị em làm chứng và rao giảng về Tin mừng một cách thuyết phục nhất. Như men giữa lòng đời, chị em làm cho cuộc sống trần thế được thanh luyện, thấm nhuần tinh thần Phúc âm.”

  • Truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh của các chị em đau yếu

Hiến luật 39.3 nhắc đến cách thức truyền giáo này của các chị nhà hưu dưỡng : “…Riêng các chị già yếu bệnh tật, có bổn phận tham gia vào sứ mạng tông đồ bằng đời sống cầu nguyện, hy sinh và trung thành sống đời thánh hiến”.

Có thể chúng ta đã không thấy hết và không hình dung được những kết quả tông đồ được gặt hái do các lời cầu nguyện, do những hy sinh hãm mình chịu đựng đau bệnh và tuổi già của các chị em nhà hưu dưỡng của Dòng, cũng như của các bệnh nhân và người già neo đơn trên thế giới.

IV- BƯỚC ĐƯỜNG RAO GIẢNG TIN MỪNG CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ

Công cuộc Rao giảng của người tông đồ vừa là một sứ mạng, vừa là một ân huệ của Đức Giêsu khi xung công chúng ta trong công việc rao giảng Tin Mừng, như lời thánh Phaolô: “Nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ tông đồ…” (Rm 1,5). Bước đường ấy cũng đòi hỏi nơi người tông đồ những phẩm cách, những điều kiện không ít khó khăn, mà chúng ta có thể nêu lên như sau:

  • Người tông đồ phải cầu nguyện

Đức Giáo hoàng Gioan XXIII nhắn nhủ chúng ta : “Nhiệm vụ thờ phượng và tận hiến cho đời sống cầu nguyện phải trổi vượt trên hết các hình thức tông đồ khác…Chỉ có đời sống nội tâm mới là nền tảng, là linh hồn điều động mọi việc tông đồ…”

Vì thế, mọi hoạt động của tu sĩ tông đồ chúng ta phải thấm nhuần lời cầu nguyện phải được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện. Tự sức chúng ta chỉ là hư vô, mọi hoạt động của chúng ta không mang lại kết quả đích thực nào nếu không có sự giúp đỡ của Chúa. Ngoài ra sự cầu nguyện còn ban thêm nghị lực, sự an ủi và ơn can đảm cho chúng ta những khi gặp khó khăn nặng nề trong trách nhiệm mình, những khi mình khô khan, nguội lạnh, những lúc chán nản thất vọng…

  • Người tông đồ phải có tinh thần hy sinh từ bỏ

Thánh Phaolô đã nêu lên gương tự huỷ của Đức Giêsu : “… Người vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…” (Phil 2,6-7).

Từ bỏ ở đây là sự xoá mình đi, tự huỷ, để phục vụ Đức Kitô và Giáo hội, chứ không phải đi tìm và sống cho bản thân, như lời Đức Giêsu khuyên dạy : …Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em”. (Mt 20,25-27)

Người tông đồ không tìm mình trong khi hiến thân cho sứ vụ, không tìm vinh dự, tiếng khen, lợi lộc phần thưởng ở đời này, không cầu được nổi nang, hơn người, không “tự cao tự đại”, không tìm khẳng định mình, nhưng “ham thích những gì hèn mọn;  coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,16)

Hy sinh từ bỏ là hạ mình phục vụ, như gương sáng Người để lại: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”; là vui lòng trở thành hư vô bé nhỏ, như tâm nguyện của Gioan Tẩy Giả đối với Đức Giêsu: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”; chấp nhận thân phận hạt lúa mì, mục nát đi để phát sinh mùa màng cho Nước Trời,

  • Người tông đồ phải khiêm tốn và tìn tưởng ở quyền năng Thiên Chúa.

Sứ mạng của người tông đồ là được sai đi để rao giảng Lời Chúa, đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người… Sứ mạng thì cao cả, nhưng bản thân người tông đồ thì giới hạn, yếu đuối….Thánh Phaolô nhìn nhận ân huệ được phục vụ Tin Mừng thì cao cả như một kho tàng vô giá, nhưng bản thân ngài chỉ là chiếc bình sành yếu đuối mỏng dòn. Ngài nhận thực rằng “Không phải vì tự chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước mới… Vì có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật lòng vững dạ an lòng… (IICr 3,5.12). Bởi chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa, còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em (IICr 4,5)

Vì thế người tông đồ phải biết thi hành sứ mạng trong khiêm tốn, tự hạ, cậy trông, không cậy dựa vào sức riêng mình. Một khi đã khiêm tốn nhận ra những yếu đuối giới hạn của mình, đã chân thành cậy trông nơi Chúa và cầu xin ơn trợ lực nơi Chúa, thì quyền năng của Thiên Chúa sẽ được thi thố nơi người tông đồ. Họ sẽ có thể chu toàn sứ mạng của mình, sẽ làm được những việc phi thường, như lời Chúa hứa: “những dấu lạ sẽ đi theo những kẻ tin, nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, nói được các thứ tiếng. Họ sẽ cầm rắn trong tay, và dẫu có uống nhầm thuốc độc, thuốc độc cũng chẳng hại được họ. Họ sẽ đặt tay trên kẻ liệt lào, và họ sẽ được an lành mạnh khoẻ” (Mc 16,17-18)

  • Người tông đồ phải biết hiến mình cho sứ mệnh.

Trong đời sống công khai rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã hiến mình đến tận tuyệt cho sứ vụ. Ngài không quản khó nhọc, vất vả ngược xuôi “rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9, 35). Tin Mừng kể lại : người nhà phải đi tìm Người về, vì cho rằng Người đã mất trí ! Sự hiến mình đi cho đến tận cùng với cuộc khổ nạn và cái chết khổ nhục trên Thập giá.

Còn Thánh Phaolô trong thư gửi cho giáo hữu Côrinhtô, đã viết : “Vì Thiên Chúa đoái thương giao chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí (II Cr 4,1). Ngài không ngại tiêu hao sức lực, thời giờ và của cải để loan báo Sứ điệp của Đức Kitô : “Trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ là những thừa tác viên của Thiên Chúa : gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng..(IICr 6,4-5), (x. II Cr 7,5). A

Nhưng đằng sau những hiến mình trong gian truân vất vả, là niềm tin vào sự phù trợ của Thiên Chúa, và vào phần thưởng đời sau dành cho người tông đồ. Bởi vì “Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận (IICr 4,17).

Kết luận

Như mọi Kitô hữu khác, Sứ vụ của chị em Mân Côi là “Mang ơn Cứu độ đến cho mọi người”. Để thực thi sứ vụ này “một cách Mân Côi”, chúng ta cần nối kết với những chiều kích khác của Linh đạo: là thực thi sứ vụ trong tinh thần bác ái hoàn hảo của Phúc âm là “kính Chúa yêu người”, cần gắn bó với Mẹ Maria, đặc biệt với lòng sùng mộ đối với kinh Mân Côi, và qua việc sống các mầu nhiệm ơn Cứu độ của Chúa Giêsu và Mẹ thánh Người.

Nhờ vậy, chúng ta sẽ được trở nên người môn đệ đích thực của Thày Giêsu, được cộng tác trong kế hoạch và chương trình Cứu độ của Chúa Cha do Đức Giêsu thực hiện, qua đời sống thánh hiến Mân Côi chúng ta.

[1] LP II, khoản 4; GSD I, tr. 471

[2] NVBT, II, II, 14; GSD I, tr. 151

[3] LP I, khoản 181; GSD I, tr. 117

[4] LP I, khoản 187; GSD I, tr. 116

[5] Như trên, khoản 188; tr. 118

[6] LP II, khoản 113; GSD I, tr. 493

Bài mới

Cầu Nguyện Với Chuỗi Tràng Hạt Mân Côi

GB. Bùi Tuần---Tôi tha thiết cầu mong chuỗi tràng hạt mân côi sẽ được mọi con cái Mẹ ở khắp nơi giữ bên mình với hết lòng tin tưởng cậy trông.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *