Home / Bài Viết / Một năm Về Nguồn / Về Nguồn: Từng Bước Đến Gần Cha

Về Nguồn: Từng Bước Đến Gần Cha

TỪNG BƯỚC ĐẾN GẦN CHA

 

Nt. M. Gaudentia XUÂN HUỆ

Tôi bước chân vào tu viện khi Hội dòng đã định cư trên quê hương thứ hai: Chí Hòa – Sài Gòn. Những năm tháng ấy, tôi không được nghe nói hay học hỏi gì về đức cha Tổ Phụ dòng, nên tôi không biết gì về ngài, cũng chẳng bao giờ quan tâm tìm hiểu.

Lần đầu tiên khi còn là một Đệ tử học trung học, một giáo sư trường Mai Khôi: thầy Đoàn Đình Giản, có kể về đức cha Hồ Ngọc Cẩn cho cả lớp nghe. Điều duy nhất tôi còn nhớ là đức cha Hồ có đôi mắt bồ câu đen tròn, rất nhân từ hiền hậu. Từ đó mỗi khi bắt gặp một tấm hình nào của ngài, tôi đều nhìn vào đôi mắt ấy và cảm nhận được một sự gần gũi thân thuộc.

Tiến sâu hơn vào đời thánh hiến, khi đang ở Tập viện, tình cờ tôi có được một tấm ảnh nhỏ cũ kỹ, in hình đức cha và nhà Trung Linh, nơi đức cha lập dòng, với mấy dòng thơ, tôi đã đọc và vẫn còn nhớ:

Tràng châu mở cảnh tràng sinh,

Trồng cây cực tốt cực lành Mân Côi.

Đượm nhuần vũ lộ xanh tươi,

Bốn mùa hoa nở ngất trời hương bay!

Đức cha già cố cao tay,

Cải tu nhà phước, lập xây nhà dòng,

Cần cù trải mấy thu đông,

Gian lao tân khổ ai đong được nào?

 

Muôn ngàn cám đội ân sâu,

Vừa vui thành tựu đã sầu chia ly,

Lấy gì báo đáp ân nghi,

Xin cha dẫn dắt phù trì các con:

Cho đường thánh đức vuông tròn,

In theo mẫu, đúc theo khuôn của ngài,

Vun trồng vườn thánh Mân Côi,

Để cho Giáo Hội muôn đời nhớ cha.

Đọc những tâm tình trên, tôi nhìn thấy rõ hơn một tấm lòng, một con người, và con người ấy đã hình thành và lớn dần lên trong tôi ngày một đậm nét và thân tình hơn…

Quả thực như vậy, sau khi Khấn dòng, với công tác phục vụ văn phòng trường trung tiểu học Mai Khôi, tôi có dịp liên hệ với một số trường trong thành phố, về những báo cáo hằng tháng, về hồ sơ thi cử, ký nhận giấy tờ…, tình cờ tôi biết đến trường trung học Hồ Ngọc Cẩn – Gia Định. Lần đầu bước vào văn phòng nhà trường, thấy hình đức cha Hồ treo nơi chính diện, tôi vô cùng xúc động và cảm thấy thân quen như bước vào nhà cha của mình. Tôi cứ giữ cảm xúc đó trong lòng, và những lần kế tiếp đến đó, tôi quên hết mệt nhọc khi chiếc PC cọc cạch tới chợ Bà Chiểu rẽ trái!

Năm tháng qua đi, trong tôi hình ảnh Đấng Tổ Phụ đã ghi đậm nét, để rồi những ngày tháng kế tiếp, tôi đã không ngần ngại nhắc đến tên ngài khi có ai hỏi về Hội dòng Mân Côi của tôi. Thú thực, lúc đó điều tôi cảm thấy hãnh diện nhất là mình đi tu dòng Mân Côi, một dòng Việt Nam, do chính người Việt Nam sáng lập! Tôi không chọn lựa điều đó khi bước vào dòng, nhưng khi khám phá ra, tôi vô cùng cảm tạ Chúa đã dẫn dắt tôi, đưa tôi vào một môi trường thích hợp để lớn lên trong ân sủng và trong bầu khí gia đình thương yêu. Tôi đã nói lên điều này khi tranh luận với một thầy thuộc tu hội Tận Hiến ở Đà Lạt (mà tôi cũng chẳng hề biết tên) về dòng “tây” và dòng “ta”, chỉ vì thầy đó gặp tôi lần đầu và đoán tôi là một nữ tu dòng… tây. Thầy đó cười và nói: “lần đầu tiên tôi gặp một người như chị, có lẽ tôi cũng bắt chước chị để yêu mến tu hội mình, tu hội tôi cũng do người Việt Nam lập”.

Quả thực, tôi chưa bao giờ mặc cảm về dòng mình, về Đấng Sáng Lập của mình, mặc dù ngài chưa được Giáo Hội phong thánh như các Đấng Thánh lập dòng khác, nhưng trong lòng mỗi người con, ngài là một vị thánh vĩ đại, một vị thánh rất gần gũi và đầy yêu thương, luôn phù hộ và nâng đỡ chúng tôi, như thế là quá đủ! Tôi vẫn hãnh diện về ngài và yêu mến ngài, đơn giản vì ngài là cha tôi. Và còn vì những lý do khách quan khác nữa mà dần dần tôi khám phá ra nơi ngài…

Với trách vụ và bổn phận, tôi có dịp đọc lại những trang lịch sử, những tập nhật ký của Hội dòng từ ngày thành lập, những bút tích của đức cha Tổ Phụ, của các cha đồng thời với ngài để lại, tôi cảm nhận về con người đức cha có lẽ còn rõ nét hơn là nếu tôi được gặp mặt, được tiếp xúc! Bởi lẽ những trực giác thường khơi gợi lên một điều có thực, bởi lẽ những cảm nhận của tôi không bị chi phối bởi con người hữu hình của ngài, nhưng đi vào chính nội tâm phong phú của một con người, vượt qua mọi rào cản về hình thức, về địa phương.

Tôi vẫn còn xúc động đến rơi lệ mỗi khi đọc lại những trang sử, những dòng nhật ký, ghi về ngày nhận chức của ngài tại Bùi Chu…, về biến cố chia địa phận…, về những tháng năm chuẩn bị cho chúng tôi chào đời… Tất cả để lại trong tôi hình ảnh một tấm lòng rộng lượng, bao dung, khiêm tốn, và nhất là nhẫn nhục chịu đựng.

Chỉ nguyên một điều rất nhỏ mọn: đối với tôi, khi nghe một người Huế nói chuyện, thú thực tôi không hiểu nổi họ nói gì. Thế mà các bà, các chị thời đó, chưa hề bước chân ra khỏi lũy tre làng, chưa hề tiếp xúc với những địa phương khác; thế nhưng, các bà các chị đã nghe và hiểu những lời đức cha nói. Ngài đã thực sự hòa mình với mọi người, đã đón nhận mọi người với cả tấm lòng, và khiêm tốn đi vào lề thói của một địa phận với nhiều hình thức truyền thống: ngài đã tập nói tiếng Bùi Chu, đã đến với người khác bằng con đường của chính họ – Điều không hề dễ với một cụ già gần 70 tuổi! Nơi ngài, dòng Hương Giang thơ mộng đã hòa nhập với dòng Ninh Cơ êm đềm, tạo nên một sức sống phong phú, băng qua mọi cánh đồng đem đến cho muôn người niềm hy vọng, an vui và hạnh phúc!

Tôi mãi mãi cảm phục sự can đảm, khiêm tốn của ngài trước mọi khó khăn thử thách khi về nhận chức tại Bùi Chu; trước sự nghiệp vĩ đại 300 năm truyền giáo của dòng Đaminh tại Việt Nam, đó là một sức ép nặng nề và là thách đố lớn lao đối với vị Giám mục Việt Nam tiên khởi của Bùi Chu. Tôi cũng mãi mãi cảm phục tấm lòng rộng lượng và nhẫn nhục của ngài trước những chống đối, những cách cư xử hẹp hòi của một số cha trong địa phận khi chống lại việc ngài lập dòng Mân Côi, và khi dòng Mân Côi đã chào đời… Và các bà các chị chúng tôi cũng phải bắt chước gương ngài để đón nhận những khinh khi, ruồng rẫy và ghét bỏ khi ngài mới qua đời.

Đây là bước đầu khởi sự cho hành trình của niềm tin; tôi nghĩ rằng, Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi những hồng ân ấy, để chúng tôi lớn lên trong niềm tin, để chúng tôi có thể vững vàng tiến bước mãi trong cuộc đời mà Người biết rằng sẽ còn nhiều khó khăn, sóng gió hơn thế nữa.

Tôi luôn cảm tạ Chúa về những hồng ân ấy và cảm tạ người cha thánh thiện của mình, là nữ tu Mân Côi, tôi nhìn ngài trong khía cạnh của đời sống tu trì và tôi khẳng định một điều: ngài là một Giám mục thánh thiện. Sự tài giỏi, thông minh uyên bác hay những tài năng khác của ngài nằm ngoài phạm vi của tôi.

Nhìn lại thời gian qua, tôi luôn thấy ngài hiện diện trong lịch sử của Hội dòng, trong lời ngài giáo huấn qua những tác phẩm nhỏ về đời sống thánh hiến nói chung, và những tác phẩm viết riêng cho Hội dòng. Đó là gia tài quý giá mà Hội dòng có được, tôi không nghĩ mình bị thiệt thòi khi không còn được sống đồng thời với ngài, bởi vì sự hiện diện vô hình còn mang lại nhiều điều thú vị hơn, tôi bằng lòng với hoàn cảnh của mình. Và tôi nghĩ lớp hậu sinh chúng tôi tuy chỉ biết ngài một cách gián tiếp như thế, nhưng trong lòng vẫn ghi đậm hình ảnh ngài, ghi đậm những giáo huấn của ngài, và chính những lời giáo huấn, những gương sáng của ngài đã nuôi dưỡng chúng tôi từng ngày, đã hình thành nơi chúng tôi một con người nữ tu mang tinh thần và đặc sủng của ngài, mang dáng dấp của một nữ tu con Mẹ Mân Côi mà không thể lẫn vào đâu được: Giản dị, vui tươi, hòa đồng, khiêm tốn, nhẫn nhục và bác ái.

Tôi nghĩ đó là thành công của một con người. Đức cha Tổ Phụ chúng tôi đã qua đi, nhưng ngài còn mãi trong từng trang sử, trong từng thời đại, trong từng tâm hồn mỗi con cái, còn lưu dấu mãi mãi nơi chúng tôi, dòng dõi của ngài, dòng dõi những người tìm kiếm Chúa.

 

Bài mới

Đời sống cộng đoàn và những thách đố

Tại sao đời sống cộng đoàn luôn có những thách đố? Đơn giản là vì nơi cộng đoàn, có nhiều người sống với nhau, nhưng lại khác nhau về bối cảnh, văn hoá, suy nghĩ, lối sống, quan điểm.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *