Home / Ơn Gọi Mân Côi / Bài cảm nhận Ơn Gọi Mân Côi / Cảm nhận Ơn Gọi Mân Côi: Thuộc về

Cảm nhận Ơn Gọi Mân Côi: Thuộc về

Cảm nhận Ơn Gọi Mân Côi: Thuộc về

“Con thuộc về Chúa, ngay lúc con còn trong lòng mẹ. Con thuộc về Chúa, ngay khi con vừa mới hạ sinh. Con thuộc về Chúa, khi sớm mai và khi chiều tàn. Con thuộc về Chúa, khi dương gian dù nắng dù mưa. Con thuộc về Chúa, khi đời con lắng lo hay muộn phiền, khi tàn hơi lúc con ngã quỵ, con vẫn thuộc về Ngài, thuộc về Ngài mà thôi…” (Thuộc về – Giang Ân)

Phải, cảm thức thuộc về thật sự rất quan trọng. Nếu không nhận thấy rằng, mình thuộc về một nơi nào đó, thật khó để mà toàn tâm toàn ý gầy dựng cho tốt đẹp hơn. Nếu không thuộc về một ai đó và không cảm thấy ai đó thuộc về mình, sẽ khó để yêu thương và phục vụ biết bao.

Tôi không sao quên được hình ảnh của mẹ. Mẹ tôi vốn dĩ thể trạng rất yếu ớt. Vì thế, hành trình vượt cạn để đón chúng tôi chào đời đã rút hết chút sinh lực còn lại nơi thân xác mẹ. Các bác sĩ sản khoa đã nhiều lần khuyên mẹ nên nghĩ đến sức khỏe và tương lai của mình mà bỏ đi cái sinh linh bé nhỏ đang thành hình trong dạ mẹ. Nhưng mẹ hiểu rằng, mẹ thuộc về một Đấng tối cao và sinh linh ấy thuộc về mẹ, nên mẹ quyết định đi cho đến đỉnh của tình yêu. Tôi rất yêu mẹ, người phụ nữ với tinh thần thép trong thể trạng hao mòn. Vì muốn chúng tôi được đủ đầy, hạnh phúc, mẹ lao vào công việc mặc cho cơ thể đòi hỏi sự nghỉ ngơi, chăm dưỡng.

Khi tôi vừa bước chân vào Nhà Dòng, có ai đó từng nói với tôi rằng: Bạn nghĩ một tu sĩ làm việc có hiệu quả hơn một nhân viên công ty chăng? Hẳn là không! Bạn nghĩ một tu sĩ hy sinh nhiều hơn một giáo dân ư? Không hẳn thế! Vậy điều gì khiến người tu sĩ có giá trị trước mặt Chúa và người đời? Chính là đời sống nội tâm phong phú qua việc cầu nguyện không ngừng, ở mọi nơi, mọi lúc. Tôi đã từng không đồng ý lắm với những nhận xét ấy. Đành rằng cầu nguyện là hơi thở, là linh hồn của người tu sĩ, nhưng tôi không tin người tu sĩ không hy sinh hơn, không dấn thân hơn, không xốc vác hơn những giáo dân bình thường… cho đến khi ký ức về mẹ chợt ùa tràn trái tim tôi…

Ngày ấy, tôi vừa tròn 6 tuổi. Buổi trưa, đi học về, tôi chợt có một cảm giác là lạ… Căn nhà sao trống vắng quá! “Mẹ ơi, Mẹ!” Tôi cất tiếng gọi và chạy khắp nơi để kiếm tìm. Cuối cùng… trên căn gác xếp… mẹ tôi đang nằm dưới sàn, hơi thở thoi thóp, giọng nói đứt quãng: “Lấy… cho me… lọ… dầu”. Tôi vội vàng cầm lấy chai dầu trong tủ, đặt vào đôi tay run run của mẹ. Kịch! Lọ dầu rơi khỏi đôi tay mềm nhũn của mẹ tôi. Tôi mếu máo nhặt lấy, mở nắp, xức dầu lên trán, lên cổ, lên tay mẹ. “Mẹ, mẹ ơi, mẹ đừng chết mẹ ơi!” Mẹ nặng nhọc đưa bàn tay lên gạt nước mắt đang nhạt nhòa trên khuôn mặt tôi. “Gái yêu của mẹ ngoan, đừng khóc!” Tôi chẳng biết làm gì hơn là ngồi bên mẹ, đặt bàn tay vào lòng bàn tay mẹ, truyền chút hơi ấm nhỏ nhoi vào cơ thể mẹ. Ít phút sau, mẹ mệt mỏi đứng lên, lấy chút hơi tàn thay vội chiếc áo dài.“Mẹ, mẹ đi đâu vậy?” “Mẹ đi dạy.” “Nhưng mẹ đang ốm mà!” “Con không hiểu đâu! Mình có đạo, mình nghỉ làm, họ sẽ bắt bẻ, làm khó mình. Mẹ không muốn tụi con phải khổ, đời mẹ khổ nhiều rồi, con của mẹ phải được sung sướng”. Tôi bặm chặt đôi môi ngăn những giọt nước mắt đang chực rơi xuống. Tôi không dám hỏi, cũng không dám nói thêm lời nào nữa, sợ rằng mỗi từ mẹ đáp trả sẽ lấy thêm một phần sinh khí của mẹ.

Đó là lần đầu tiên căn bệnh rối loạn tiền đình hành hạ mẹ tôi. Bắt đầu từ đó, căn bệnh thường xuyên trở đi trở lại. Những buổi tối dạy thêm, căn phòng nhỏ với hơn 100 học sinh càng khiến những triệu chứng của căn bệnh có cơ hội tái phát. Có khi mẹ phải ra ngoài, dựa sát vào tường để kìm cơn chóng mặt. Có khi mẹ nôn liên tục khiến cơ thể rã rời. Nhưng mẹ không nghỉ một buổi dạy nào. Cái tâm đối với nghề và với từng học trò nhỏ như với chính con cái mình không cho phép mẹ du di cho sự mệt mỏi của thân xác.

Tôi tự hỏi, khi một tu sĩ đau ốm như thế, chính bản thân người ấy hay cộng đoàn có đành lòng để họ phải chịu đựng quá sức không? Câu trả lời chắc chắn là không. Vậy thì có gì là dấn thân hơn, là tận tụy hơn?

Tôi không sao quên được hình ảnh của bố. Những năm thập niên 80 của thế kỷ trước, khi công nghệ thông tin vừa len lỏi vào thị trường Việt thì bố tôi là một trong số ít kỹ sư sử dụng thành thạo máy vi tính thời bấy giờ. Đầu thập niên 90, khi chính sách bế quan tỏa cảng chính thức chấm dứt, với vốn ngoại ngữ phong phú, bố được cắt cử làm giám đốc một chi nhánh của tổng công ty ở nước ngoài. Tôi vẫn còn nhớ cuộc đối thoại của bố mẹ vào tối hôm ấy:

–    Em nghĩ sao?

–    Ông A, ông B, chỉ là đi lao động thôi, mà nhiều tiền lắm. Vợ con ở đây xây nhà, sắm xe, nhưng mà không còn bố nữa… Qua đó một thời gian, họ lại có một tổ ấm khác rồi. Nhà mình cần một người chồng, một người cha hơn là tiền rừng bạc biển. Tùy anh chọn lựa.

Tôi không nghe được quyết định của bố, nhưng sự hiện diện ở bên cạnh chúng tôi cho đến ngày hôm nay chính là câu trả lời. Bố biết nơi mà bố thuộc về, hạnh phúc mà bố cần gìn giữ.

Tôi yêu bố, người đàn ông “đa năng”. Hình như chưa một đồ vật hay phương tiện nào trong nhà hư hỏng mà phải đem ra ngoài tiệm. Từ chiếc xe máy, cho đến chiếc máy may hay quạt điện, ti vi… Thuở còn bé, tôi từng ngây thơ nghĩ rằng, đã là đàn ông thì phải biết tất cả những việc ấy, cho đến khi tôi trưởng thành, tôi mới hiểu rằng, không phải như thế… Những bữa cơm, bố không bao giờ chịu ăn thịt mà chỉ gặm xương, bố thường bảo: “Bố thích ăn xương”. Thuở còn bé, tôi từng ngây thơ tin lời bố nói cho đến khi tôi trưởng thành, tôi mới hiểu rằng, đó là tấm lòng cao thượng của một người bố.

Tôi tự hỏi, có mấy tu sĩ dám hy sinh, dám từ bỏ chính bản thân mình, dám quyết định vì hạnh phúc của người khác?

Nhưng là tu sĩ, là người của Chúa, Chúa không đòi hỏi họ lao vào công việc như thiêu thân, không đòi hỏi họ thập toàn kỳ mỹ, không đòi hỏi một con người thành công rực rỡ, một con người hoàn hảo, một con người hy sinh, dấn thân bậc nhất. Chúa cần nơi người tu sĩ một trái tim, một ngọn lửa vì Chúa, vì tha nhân, một người tu sĩ biết cầu nguyện, một người tu sĩ biết mình thuộc về ai.

Lạy Chúa, chỉ khi nào con thật sự ý thức con thuộc về nơi Chúa đang hẹn gặp con, con mới có thể chung tay góp sức, sống chết cùng nơi ấy. Chỉ khi nào con ý thức mình thuộc trọn vẹn về Chúa, con mới có thể làm mọi sự vì lòng yêu mến Chúa!

Thuỵ Vũ ( Tập sinh Mân Côi)

 

Bài mới

Thư định hướng đầu niên học 2018-2019

“Trung thành trong việc ở với Chúa và để Chúa sai đi”, chính là kiên định trong đường lối của Chúa, là thể hiện sự quyết tâm vươn tới một lý tưởng, một mục đích, cho dù có phải trải qua nhiều khó khăn trắc trở.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *