Home / Đấng Sáng Lập / Tiểu Sử / Lược sử cuộc đời Đấng Sáng Lập

Lược sử cuộc đời Đấng Sáng Lập

LƯỢC SỬ CUỘC ĐỜI ĐỨC CHA ĐÔMINICÔ MARIA HỒ NGỌC CẨN

GM. GIÁO PHẬN BÙI CHU – SÁNG LẬP DÒNG CON ĐỨC MẸ MÂN CÔI GIA THẾ

Chào đời ngày 3-12-1876 tại họ Ba Châu, xứ Ngọc Hồ, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), tên gọi là Hồ Ngọc Ca, (Năm 1901, trước khi chịu chức Năm, Thầy Hồ Ngọc Ca mới đổi tên là Hồ Ngọc Cẩn).

Cha là ông Giuse Hồ Ngọc Thi, mẹ là bà Anê Nguyễn Thị Đào, chỉ có một người em trai tên là Hồ Ngọc Vịnh. Ông Hồ Ngọc Thi mất sớm, nên bà Nguyễn Thị Đào phải đưa hai anh em: Ca và Vịnh về sống tại quê ngoại Trường An (nhà thờ Thợ Đúc).

GIÁO SƯ CHỦNG VIỆN AN NINH

Nhiệm sở đầu tiên của tân linh mục là làm Phó xứ Kẻ Văn (Quảng Trị), từ tháng 02-1903 đến tháng 08-1907. Tại giáo xứ nghèo nàn này, cha phó xứ chú trọng nâng cao dân trí mở lớp dậy chữ, từng bước giáo dục, uốn nắn cách đọc kinh, cách đối xử với nhau… Giáo dân Kẻ Văn, Kẻ Hội, Kẻ Vịnh, Hội Viên, An Thơ… đều quý mến Cha phó Hồ Ngọc Cẩn. Qua tháng 11-1907, làm Chánh xứ Vạn Lộc (Kẻ Hạc), một giáo xứ phía Bắc Quảng Bình, trong 5 năm.

Hễ nơi nào Cha Cẩn đảm nhiệm, nơi đó như được luồng sinh khí mới, được cái vẻ tươi trẻ về tinh thần cùng hình thức, làm cho dân trí thay đổi dường như gặp một phong trào cải cách vậy.

Đến tháng 09-1910, linh mục Hồ Ngọc Cẩn được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu Chủng viện An Ninh, là một giáo sư người Việt Nam đầu tiên của trường này. Cha giáo Cẩn phụ trách dậy môn La-tinh, tiếng Pháp, Toán, Việt văn, nhưng sở trường hơn cả là La-tinh và Việt văn. Phương pháp sư phạm của Cha giáo Cẩn rất dễ hiểu, dễ nhớ, sáng sủa nhẹ nhàng.

 BỀ TRÊN DÒNG THÁNH TÂM – HUẾ

Đức cha Eugène Allys (Lý, 1852-1936), Giám mục giáo phận Huế (1908-1931) xin phép Tòa Thánh lập một Dòng Sư Huynh, danh xưng là Dòng “Anh Em Hèn Mọn Rất Thánh Trái tim Đức Chúa Giêsu” (thường gọi là Dòng Thánh Tâm). Dòng này trực thuộc Giám mục giáo phận, có chức năng chuyên dậy văn hóa, giáo lý cho nam sinh. Trụ sở chính của Dòng được xây cất ở làng Trường An (Phường Đúc) bên cạnh nhà thờ giáo xứ, vào năm 1923. Sự nghiệp này, Đức cha Lý trao cho Cha Cẩn tiếp tục.

Năm 1924 cơ sở của Dòng xây cất cơ bản đã hoàn thành. Linh mục Hồ Ngọc Cẩn làm Bề trên đầu tiên của Dòng này. Trong thời gian từ 1924-1935, điều khiển một Dòng tu mới lập, linh mục Hồ Ngọc Cẩn nỗ lực xây dựng cơ sở, giáo dục đào tạo tu sĩ và phát triển đưọc 4 trường Sơ đẳng tiểu học do các sư huynh Thánh Tâm điều khiển, ở Trường An, Phú Cam, Kim Long và Lại Ân. Và còn lập một nhà in “Trường An ấn quán” chuyên in sách báo tài liệu giáo lý của giáo phận Huế. Cha Cẩn còn tiếp tục làm Bề trên và phát triển cho Dòng tới ngày ngài thụ phong Giám mục và trọng nhậm Địa phận Bùi Chu. (theo sử Giáo Phận Huế)

  • 12-3-1935: Đức Piô XI ký sắc lệnh phong chức Giám mục phó Bùi Chu, hiệu toà Đức cha Hồ lấy khẩu hiệu: “In Omni Patientia et Doctrina” (Trong tất cả kiên nhẫn và giáo huấn) (2 Tm, 4,2).
  • 29-6-1935: Lễ tấn phong Giám mục tại nhà thờ Phủ Cam, Huế.
  • 3-8-1935: Về Bùi Chu, bắt tay thi hành sứ vụ Giám mục phó, dưới quyền Đức Giám mục Chánh Phêrô Munãgorri Trung.
  • 17-6-1936: Đức cha Munãgorri Trung qua đời, Đức cha Hồ Ngọc Cẩn lên thay quyền.

Toà Thánh chia Địa phận Bùi Chu thành hai địa phận: Bùi Chu và Thái Bình, Đức cha Hồ đảm nhiệm Địa phận Bùi Chu và Đức cha Casado Thuận đảm nhiệm Địa phận Thái Bình.

  • 25-8-1936: Lập lại Đại Chủng viện Bùi Chu (Bùi Chu tuy trước vẫn có Đại Chủng viện, nhưng từ năm 1931 sát nhập vào Giáo Hoàng Chủng viện tại Nam Định do các cha Đaminh sáng lập và điều khiển) 70 chủng sinh Bùi Chu chia làm hai nhóm: 40 thầy vẫn tiếp tục theo học Giáo Hoàng Học Viện, còn 30 thầy học tại Bùi Chu (8 thầy bốn chức và các thầy lớp Triết mới nhập trường).
  • 1937: Mời các sư huynh tu hội Lasan (Frères des écoles chrétiennes) về dậy trường Trung Linh cho các chú Tràng Thử và các em học sinh nội trú.
  • 16-09-1937: Gửi thầy Trần Văn Hiến Minh và Phạm Tuấn Đức đi du học tại trường Truyền Giáo Roma, và gửi hai thầy Lâm Quang Trọng, Vũ Đức Trinh du học trường Pénang (Malaysia).
  • Tháng 5-1940: Nhận lại cơ sở Quần Phương để làm Đại Chủng viện (Tổ chức hội Tao Đàn: Ra Khơi…)
  • 10-11-1940: Đệ đơn lên Toà Thánh xin lập Dòng Mân Côi (Nhưng do đệ nhị thế chiến, đơn xin thất lạc)
  • 10-06-1946: Đệ đơn xin lập Dòng lần thứ 2
  • 18-07-1946: Nhận được phúc thơ Bộ Truyền Giáo phúc đáp ban phép lập Dòng.
  • 08-09-1946: Tuyên sắc lập DÒNG CHỊ EM CON ĐỨC MẸ MÂN CÔI BÙI CHU, tại Trung Linh, Bùi Chu
  • 21-11-1946: Mở lớp tập đầu tiên của Dòng Mân Côi (có 17 tập sinh, do Đức cha chước giảm số năm tập, lớp khấn đầu tiên có 7 người)
  • 27-11-1948: An nghỉ trong Chúa.
  • 30-11-1948: Thánh lễ an táng, và chôn cất tại cung thánh, thánh đường chính toà Bùi Chu.

MƯỜI BA NĂM GIÁM MỤC

Lái con thuyền Giáo phận Bùi Chu, một địa phận truyền giáo, đất đai tuy không rộng lớn giáo dân lại đông đứng vào hạng nhất trong các địa phận truyền giáo hoàn cầu. 13 năm, Đức cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn quả đã vượt qua bao gió táp mưa sa, bao khó khăn biến cố hãi hùng, nhưng đã tỏ ngài là vĩ nhân xuất chúng, xứng đáng cầm đầu một địa phận từ tay hàng giáo sĩ Dòng Thánh Đaminh, người Tây Ban Nha trao sang với câu nói trịnh trọng:

“Thưa Đức Cha, ba thế kỷ Dòng Thánh Đaminh truyền giáo, ba thế kỷ Dòng Thánh Đaminh đi giảng đạo ngoại quốc, ngày nay đang ngóng trông ngài… “

Quả là một thách đố và một sức ép nặng nề đối với vị tiên Giám mục Việt Nam tại Bùi Chu. Nhưng với sự khôn ngoan, tài giỏi, đời sống thánh thiện và đặc biệt là lòng khiêm nhường, nhẫn nhục, ngài đã vượt qua tất cả và để lại cho Giáo hội, đặc biệt cho Giáo phận Bùi Chu một luồng sinh khí mới, với những canh tân cải cách từ hàng giáo sĩ, tu sĩ, đến giáo dân. Đức cha Hồ Ngọc Cẩn là một vị Giám mục nhân đức, ngài đã thực hiện đúng khẩu hiệu Giám mục của ngài; “In omnia patientia et doctrina – Tất cả trong nhẫn nại và giáo huấn”. Đời sống ngài đơn sơ khó nghèo, người ta gọi ngài là “Thầy dòng không tu phục”. Một sử gia đã viết về ngài:

“Hình dung Đức Giám mục Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn làm chúng ta liên tưởng đến những vị Giám mục lỗi lạc của thế kỷ XVII, như thánh Alphonsô Giám mục lập Dòng. Mặc dù chưa có thể gọi ngài là thánh Alphonsô Việt Nam. Nhưng giữa thánh Alphonsô và Đức cha Hồ Ngọc Cẩn có nhiều điểm giống nhau. Nơi Đức cha Hồ Ngọc Cẩn đã chiếu sáng lên các đức tính của thánh Alphonsô tiến sĩ” (Phan Phát Huồn: Việt Nam Giáo SửII, 277).

Và sự nghiệp của ngài “với hơn 100 tác phẩm về văn học và tu đức ngài đã viết, ngài quả xứng đáng là một nhà văn hóa lớn, đất nước Việt Nam và Giáo Hội Việt Nam có quyền hãnh diện về nhân vật bất hủ này” (Hoàng Xuân Việt).

Bài mới

Cầu Nguyện Với Chuỗi Tràng Hạt Mân Côi

GB. Bùi Tuần---Tôi tha thiết cầu mong chuỗi tràng hạt mân côi sẽ được mọi con cái Mẹ ở khắp nơi giữ bên mình với hết lòng tin tưởng cậy trông.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *