Home / Đấng Sáng Lập / Tiểu Sử / Hồ Ngọc Cẩn là ai?

Hồ Ngọc Cẩn là ai?

 

 

Các thân hữu (giáo sư, học sinh, nhân sự phục vụ, phụ huynh học sinh, các người cung cấp dịch vụ đa dạng, thân nhân của các người có liên quan…) có cơ hội gặp nhau tại ngôi trường mang tên HỒ NGỌC CẨN chắc không ít lần nhắc đến nhân vật này, nhất là những thân hữu đã tốt nghiệp trường này sau những năm dài mài đũng quần trên ghế nhà trường, hay bị các thầy cô phạt đánh thật đau vào đôi tay non nớt khi A không thuộc bài trọn vẹn. Nhưng nhờ những trận đòn tay có vẻ xúc phạm nhân phẩm như vậy, đặc biệt trong con mắt của người thời nay, không ít người, nếu không phải là hầu hết những học trò của trường này đã công thành danh toại ở đời vì những đòn răn đe nhớ đời nhưng đầy yêu thương, “yêu con, cho roi cho vọt; ghét con, cho ngọt cho bùi” của một thời xa xưa nào đó.

Những người có duyên may gặp nhau ở ngôi trường này, thầy cô cũng như học sinh, cả những học sinh nam nữ lớp đêm của ngôi trường nhiều ỷ niệm này một thời, đều nên có một chút ký ức và kiến thức về con người đã góp phần đào tạo nên biết bao thế hệ, cả những người ở trong hàng ngũ những người làm nên lịch sử đất nước, để nối kết thành vòng tay thân mến tương trợ nhau khi nắn gkhi mưa, lúc tạnh lúc đói. Con người ấy là ai, mà bao nhiêu thế hệ đã yêu kính?

VÀI HÀNG TIỂU SỬ:

XUẤT THÂN TỪ CHỐN BÌNH DÂN, NHƯNG KIÊN TRUNG

  1. Gia thế

Hồ Ngọc Cẩn, nguyên sinh ra được thân sinh đặt tên là Hồ Ngọc Ca (1). Ông Hồ Ngọc Thi, vốn quê làng Ba Châu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, sánh duyên với bà Nguyễn thị Đào, sinh quán làng Trường An, có nghệ danh là Phường Đúc, vì làng này chuyên nghề đúc đồng nổi danh xứ Huế, huyện Hương Thủy, cùng tỉnh Thừa Thiên. Hai ông bà lúc bình sinh có cuộc sống thanh bần, ông thì làm nghề lang, kiêm thầy giáo làng. Chính thân sinh làm nghề đông y và dạy học đã đem lại nhiều kiến thức y dược và tinh thần yêu mến văn hóa quê hương nồng nàn toát ra trong nhiều sinh hoạt văn hóa và văn chương nơi tác giả Hồ Ngọc Cẩn trong tương lai. Sau khi có cậu cả Ca, ông bà có thêm cậu thứ hai là Hồ Ngọc Vịnh.

Ca sinh ngày 03-12-1876, tức ngày 18 tháng Mười năm Bính Tý. Khi chịu rửa tội theo lễ nghi Công Giáo, cậu Ca mang tên vị thánh Công Giáo bảo trợ là Đôminicô, nay gọi là Đa-minh, tại nhà thờ họ Ba Châu, thuộc xứ đạo Ngọc Hồ, giáo phận Huế. Cụ Thi từ trần sớm. Cụ bà đem hai con về quê ngoại ở Trường An.

  1. Theo con đường tu trì

Năm 1889, khi cậu ca được 13 tuổi, linh mục chính xứ Trường An là Phanxicô Xavier Trương văn Thường (1806-1891) nhận cậu làm nghĩa tử và cho cậu thi vào Tiểu Chủng viện An Ninh ở Quảng Trị. Linh mục Izarn (Y) đã đánh rớt cậu khi ngài làm giám khảo kỳ thi tuyển sinh đầu tiên. Nhưng linh mục Girard làm giám đốc Chủng viện, vốn là bạn thân của linh mục Thường, nhận bảo lãnh cho cậu vào học thử mấy tháng ở Chủng viện.

Cậu Ca tỏ ra xuất sắc chỉ trong vài tháng học, và những năm sau đó cậu luôn đức đầu lớp. Bình thường học sinh kéo dài 8 năm, nhưng cậu đã học xong chương trình chỉ mất 6 năm.

Năm 1891, khi linh mục Thường từ trần, thầy Ca nhận linh mục Allys, chính xứ Phủ Cam, làm cha đỡ đầu. Ngày 05-08-1896, thầy Ca (2) nhập Đại Chủng viện Phú Xuân. Thầy theo học ở đó 4 năm, thì ngày 22-12-1900, trước khi chịu chức Phó tế, thầy được đổi tên là Hồ Ngọc Cẩn. chỉ hai năm sau, ngày 20-12-1902, thầy Cẩn thụ phong linh mục, khi thầy được 26 tuổi. Thật là hi hữu vào thời đó.

  1. Cuộc đời linh mục

Vừa thụ phong, tân linh mục Hồ Ngọc Cẩn được bổ nhiệm làm phó xứ Kẻ Văn ở Quảng Trị (02-1903 – 08-1907). Ở Kẻ Văn, hoạt động của linh mục thu hút cảm tình của các xứ khác như Kẻ Vinh, Hói Viên, An Thơ.

Tháng 11-1907, linh mục cẩn làm chính xứ Vạn Lộc (Kẻ Hạc) ở phía Bắc tình Quảng Bình.

Tháng 10-1910, linh mục Cẩn được bổ nhiệm làm giáo sư Tiển Chủng viện An Ninh. Từ năm 1924, linh mục Hồ Ngọc Cẩn được cử làm bề trên tiên khởi của dòng Thánh Tâm cho đến năm 1935.

  1. Cuộc đời giám mục

Địa phận Trung được tách lập từ địa phận Đông Đàng Ngoài ở phía bắc Việt Nam từ 1848, và đặt tên là Bùi Chu (3) từ năm 1924. Vào năm 1935, địa phận Bùi Chu vẫn do giám mục Pedro Munagorri (Trung, 1865-1936) quản nhiệm từ 1909. Nay đã già yếu và vẫn thương lưu ngụ tại Khoái Đồng, Nam Định, mà công việc của địa phận lại bộn bề, chờ đợi một vị giám mục kế vị năng động hơn.

Cuối cùng theo đề nghị của Khâm sứ Columban Dreyer, LM Hồ Ngọc Cẩn được chọn làm GM.

Ngày 17.5.1936, GM nhận quyền giáo phận từ tay GM Munagorri. Chỉ một tháng sau, vị GM già này qua đời, và GM Hồ Ngọc Cẩn chính thức lên thay thế.

Tháng 11 năm 1948, cái lạnh miền Bắc đã hành hạ ngài, vốn đã chịu khổ sở vì cơn suyễn khi về già. Sau khi được hàn huyên với GM Nguyễn Bá Tòng ngày 26-11-1948, thì 00 giờ 27 phút ngày 27-11-48, Ngài từ trần nhẹ nhàng và qua đi như một giấc ngủ êm đềm. GM Hồ Ngọc Cẩn thọ 72t, với 46 năm Giám Mục và 13 năm Linh Mục.

Lễ an táng được cử hành ngày 30-11-1948. Đoàn người đi theo tang lễ kéo dài đến 5 km từ Tòa Giám Mục đến Nhà Thờ Chính Tòa Bùi Chu. Tham dự lễ tiễn đưa, có nhiều nhân vật cao cấp đạo đời: Giám Mục Nguyễn Bá Tòng, cùng với hàng trăm Linh Mục, và Chủ Tịch UBKC/HC Nam Định, đại diện Phật giáo, Thượng Tọa Thích Bảo Long. Chính quyền cho đội danh dự túc trực bên quan tài của vị Cố Vấn Chính Phủ Hồ Chí Minh.

Nhân cơ hội này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện phân ưu. Thi hài Giám Mục được an táng trong nhà thờ Bùi Chu.

SỰ NGHIỆP ĐA DẠNG CỦA GM. HỒ NGỌC CẨN

  1. Tiến lên chức vị Giám Mục

Với Thông Điệp Rerum Ecclesiae (Tân Sự) do Đức Piô XI ban hành, quyền hành trong Giáo Hội được khuyến khích trao cho người địa phương, nhất là khi Giám Mục tiên khởi người Việt Nam là Nguyễn Bá Tòng (1868-1949) được tấn phong năm 1933. Địa phận Bùi Chu cũng nao nức như các cộng đoàn Dân Chúa khác, đều mong ước địa phận có một vị Giám Mục mới người Việt Nam.

Mặc cho tên Linh Mục Hoàng Gia Huệ được chính Giám Mục Munagorri đề bạt làm người kế vị, Khâm Sứ Tòa Thánh Columban Dreyer vẫn chuẩn bị một phương án thầm lặng. Cuối cùng, Đức Piô XI theo đề nghị của Khâm Sứ Dreyer, ngày 12-3-1935, đã ký Sắc lệnh bổ nhiệm Linh Mục Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm Giám Mục hiệu tòa Zenobia, giữ nhiệm vụ Phó đại diện Tông Tòa Giáo Phận Bùi Chu với quyền kế vị.

Vị tân Giám Mục chọn khẩu hiệu: “In Omni Paenitentia et Doctrina: Hết tình nhẫn nhục và tận tâm giáo huấn”, còn Huy Hiệu hình thuẫn với Thánh Giá ở giữa chiếu tỏa một bên là Sông Hương Núi Ngự, bên kia là nhà thờ Bùi Chu, phía dưới là một cuốn sách choàng một tràng chuỗi Mân Côi. Biểu tượng này do họa sĩ Tôn Thất Sa (1882-1980) thực hiện, toát lên cái gốc gác xuất phát của Ngài và giáo phận Ngài phục vụ.

Sau một tuần tĩnh tâm tại Dòng Chúa Cứu Thế Huế, sáng ngày 29.6.1935, Linh Mục Hồ Ngọc Cẩn được chính Khâm Sứ Dreyer tấn phong Giám Mục tại Nhà thờ Phủ Cam với Giám Mục Chabanon (Giáo, 1873-1936) và Nguyễn Bá Tòng phụ phong. Hiện diện tham dự lễ tấn phong có tới 130 khách quí, trong đó có hai Giám Mục: Allys, Jeannin, các Bề Trên Dòng, Ô. Tôn Thất Hân, đại diện vua Bảo Đại cùng các vị vọng khác.

Sớm ngày 1-8-1935, đoàn người tiễn đưa long trọng tân Giám Mục từ giã Huế ra Bùi Chu.

  1. Nhân cách một vị Tân Giám Mục yêu nước thương nòi.

Người ta thấy cái cá tính rất sính Việt Nam của vị Tân Giám Mục đối chọi với óc thân Tây qua câu chuyện sau đây.

1) Kết thúc bữa tiệc mừng tân GM Bùi Chu, Linh Mục Callego (Nam) đọc chúc từ bằng tiếng Pháp, nói đến công lao truyền giáo 300 năm của Dòng Đaminh tại Bùi Chu, rồi ngài kết luận:

“Nay ngọn cờ Đaminh đang bay phất phới trên đỉnh núi cao. Thưa Đức Cha, tôi không dám chỉ bảo gì cho ngài, vì như thế là thất thố vô lễ. Nhưng chúng tôi trao ngọn cờ đó vào tay ngài đang khi thắng thế, và trông mong ngài sẽ bảo vệ lấy cơ đồ lớn đó của chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhìn theo lá cờ, để nếu nó bay phất phới thì chúng tôi vui mừng. Nếu không may lá cờ đó rủ xuống, thì nỗi buồn của chúng tôi lớn lao biết mấy!”

Vị tân GM xin lỗi đáp từ bằng tiếng Việt, để tỏ lòng kính trọng quan khách, và xác định, ở cương vị GM Phó, ngài biết phải làm gì.

2) Khi làm GM phó, ngài thường trực cư trú tại Tòa Giám Mục trong khi GM chính Munagorri ở Khoái đồng với thừa sai Casado (Thuận). Ngài dùng hết thời giờ, nghiên cứu về trách nhiệm của một GM, tìm hiểu lịch sử địa lý giáo phận và tâm lý của cộng đồng giáo dân mà ngài được giao phó chăm sóc. Ngài chủ lễ các chủ nhật tại nhà thờ chính tòa. Ngày thường ngài tiếp xúc với các linh mục, các thầy trong nhà Chung, thăm các giáo xứ lân cận, kinh lý giáo hạt Quỹ Nhất và Lạc đạo. Đi thăm chủng viện Ninh Cường, đáp lại những lời chúc mừng bằng Latinh, ngài thường dùng tiếng Việt, và nói: “Là người Việt Nam cả, nói tiếng mẹ đẻ cho nó chân tình!”

3) Nhưng nổi bật hơn cả, GM Hồ Ngọc Cẩn là một nhà giáo dục nhiệt tâm và tài ba, yêu mến văn hóa dân tộc. Với tài ăn nói trôi chảy và hoạt bát, bằng cách biểu lộ thật bình dị nhưng dí dỏm, Ngài nhanh chóng chinh phục người nghe, mau chóng tiếp lửa hiếu học bừng cháy trong tâm khảm những môn sinh yêu mến của Ngài.

Năm 1937, trong đại hội Thánh Thể thế giới ở Manila, thủ đô của nước Phi Luật Tân, trước hằng trăm Giám Mục và cả một cử tọa giáo dân đông đảo, GM. Hồ NGọc Cẩn phát biểu bằng tiếng Việt Nam, trong lúc phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc đang dâng cao, được phát động trong lòng chủ nghĩa thực dân do Pháp đứng đầu ở Việt Nam. Bài này được đăng lại toàn văn trong Nam Kỳ Địa Phận số 1148, ngày 8-4-1937.

  1. Xây dựng cộng đồng giám mục – linh mục trong tình huynh đệ

Chính thức quản nhiệm giáo phận: Khi đảm lãnh quyền lãnh đạo giáo phận ngày 17.05.1936 từ Gm Munagorri trao lại, địa bàn Bùi Chu tách lập với Giáo phận Thái Bình theo sắc lệnh “Praecipuas inter Apostolicas”của Vatican ngày 9-3-1936. Nay giáo phận chỉ thuộc phạm vi tỉnh Bùi Chu sau này và một phần tỉnh Nam định. Nhiều vấn đề đặt ra: cơ sở vật chất, tài chính, nhất là nhân sự. Ngài trưng cầu ý kiến các linh mục bằng thư kín và bổ nhiệm nhiều linh mục quản hạt mới, lập lại nhiều chức vụ cho Tòa Giám Mục: Cha Chính Giáo Phận là LM Đinh Cảnh Phúc, LM Phạm Văn Lục, Quản Lý GP; LM Hoàng Gia Huệ, Giám Đốc TCV; LM Lê Hữu Cung, Giám Đốc Trường Thử; LM Trần Đình Vân, Thư Ký Toà Giám Mục.

Nhờ sự khôn khéo của Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn, nhiều vấn đề khúc mắc đã được vượt qua, nhất là việc chia của, chia người, khi tách lập GP Thái Bình ra khỏi GP Bùi Chu.

Ngài canh tân hàng ngũ linh mục: chủ phong hai linh mục mới của giáo phận, gửi thư luân lưu, trực tiếp giảng phòng cho các linh mục, củng cố tinh thần huynh đệ giữa Giám Mục và Linh Mục. Kinh nghiệm của 13 năm làm giáo sư tại TCV An Ninh và 12 năm điều hành Dòng Thánh Tâm đã giúp ngài giải quyết nhiều vấn đề đa đoan của GP mới một cách ổn thỏa.

  1. Mở mang trí thức, nâng cao học vấn cho mọi thành phần

Ngài thiết lập và tổ chức lại cấu trúc, cải tiến đào tạo trong nhiệm sở:

1) Ngay từ khi ở trách nhiệm phó xứ vào đầu năm 1903 ở Kẻ Văn, trong giai đoạn đầu tiên cuộc sống linh mục, LM Hồ Ngọc Cẩn đã chú ý đến nâng cao dân trí, mở lớp dậy chữ cho thiếu nhi và cả những người lớn thiếu học, từng bước uốn nắn họ từ câu kinh cho đến cách đối nhân xử thế.

LM Cẩn đến đâu thì hầu như nơi đó có một luồng sinh khí mới, dân trí được mở mang, nâng cao nhanh chóng như một phong trào cải cách rất có hiệu quả rất hay lây như lửa cháy.

2) Khi giảng dậy tại Tiểu chủng viện An Ninh từ tháng 11-1910, LM Cẩn là Giáo sư Việt Nam đầu tiên phụ trách các bộ môn: Latinh, Pháp văn, Toán, Việt văn. Phương pháp giảng dậy của ngài dễ hiểu, dễ nhớ, sáng sủa nhẹ nhàng: người học vừa cảm thấy vui mà học, vừa thấy lòng mình rạo rực bốc lứa!

Đích thân Ngài đến thăm các chủng sinh tại trường, giảng tĩnh tâm, chăm sóc cả phần xác cũng như phần hồn, nâng cao mức sống, rèn luyện các đức tính tự nhiên và siêu nhiên. Ngài thường nói với các chủng sinh:

“Các chủng viện là một nửa công việc của Cha. Chúng con có luyện văn tu đức, tương lai địa phận ở trong tay chúng con đấy”

Câu nói nổi danh ấy của Ngài với các chủng sinh thường được người ta nhắc lại nhiều lần sau này.

Bùi Chu có lẽ là giáo phận phát triển nhất về số lượng giáo dân đông đảo, nhiệt thành, với nhiều linh mục tu sĩ đạo hạnh, nhưng theo nhận xét của nhiều người, vẫn chưa có một nền học vấn tốt, mặc dù có nhiều cơ sở tôn giáo bề thế: thánh đường nguy nga, chủng viện, tu viện, nhà phước, trường học và cơ sở xã hội…

3) Khi nắm quyền điều khiển giáo phận Bùi Chu ở trách nhiệm Giám Mục, ngài cho tổ chức lại các cơ sở đào tạo chủng sinh các cấp: Tràng Tập Trung Linh, Tiểu Chủng Viện Ninh Cường, Trường Thầy Giảng.

Trường Thử hay Trường Tập Trung Linh được mở năm 1937, giao cho các Sư Huynh La san trông coi. Với nơi ăn chốn ở đầy đủ, khởi đầu có ba sư huynh đến nhận trường. Cải tiến việc giảng dậy ở TCV Ninh Cường qua các môn Khoa Học, Việt, La, Pháp. Chính GM Hồ Ngọc Cẩn đích thân giảng dậy cho các chủng sinh với phương pháp đơn giản nhưng linh động.Tiếng Latinh được giảng dậy kỹ lưỡng, học tập chăm chỉ, ôn luyện công phu, đến nỗi các chủng sinh có thể nói chuyện thành thạo hằng ngày với nhau bằng tiếng Latinh! GM Hồ Ngọc Cẩn nổi tiếng giỏi giang tiếng Latinh, đến nỗi các Bộ của Tòa Thánh khi đọc các văn kiện tường trình của Ngài, phải thốt lên:

“Ít khi Bộ nhận được những văn kiện có ngôn từ đặc sắc như thế này!”

Thật là văn từ của các vị Giáo phụ trong Giáo Hội Công Giáo! Nhiều khi chính GM Hồ Ngọc Cẩn đích thân cắp sách xuống dậy môn Latinh cho các chủng sinh. Ai ai cũng đua nhau học thứ ngôn ngữ đó của Giáo Hội.

Cũng từ 1937, Ngài cho 4 sinh viên du học Trường Truyền Giáo Rôma và ĐCV Penang. Trong số đó có Trần Văn Hiến Minh, Lâm Quang Trọng, Vũ Đức Trinh và về sau họ là những linh mục có thế giá, phục vụ Giáo Hội.

4) Từ trước, GP Bùi Chu đã có Đại Chủng Viện riêng, nhưng từ năm 1930-1931, các chủng sinh Bùi Chu đều tựu học ở Chủng Viện Giáo Hoàng tại Nam Định do các linh mục dòng Đa Minh phụ trách và được trợ cấp của Tòa Thánh Vatican.

Các chủng sinh Bùi Chu có nguyện vọng trở về học tại Bùi Chu, nên GM HNC xin Bộ Truyền Giáo ở Rôma và ngày 7-3-1936 Bộ Truyền Giáo đã trả lời: “… Đức Cha muốn tái lập Đại Chủng Viện trong giáo phận, thì Bộ cũng quan tâm và không từ chối”.

Thực tế có nhiều khó khăn về việc giảng huấn, nhưng nhờ sự khôn khéo và cương quyết của GM Hồ Ngọc Cẩn, ĐCV GP Bùi Chu đã khai giảng niên khóa đầu tiên tại Quần Phương giữa năm 1940, rồi hoàn chỉnh dần chương trình học tập ngõ hầu nâng cao giá trị đào tạo. Cuối tháng 5-1940 LM Hoàng Gia Huệ làm giám đốc với ba LM làm giáo sư: M. Mỹ, Đaminh Túc và Đaminh Thủ.

Tòa nhà trước kia là cơ sở Tu viện Dòng Đaminh ở Quần Phương được chỉnh trang thêm và dùng làm Đại Chủng Viện Thánh Tôma Aquinô. Ngài cho xây nhà hai tầng, bên trên là nhà nguyện Thánh Tâm, bên dưới là thư viện và trụ sở cho Hội ‘Học Thức Tăng Tiến’ được thành lập làm nơi sinh hoạt cho học sinh và trí thức địa phương sinh hoạt. Chính hội này biến thành tổ chức văn hóa ‘Ra Khơi’. Mỗi năm có từ 8 đến 10 tân linh mục xuất thân từ Đại Chủng Viện này.

Nên biết là khi GM Munagorri Trung, OP, người bảo trợ cho Tu Viện Đa Minh ở Quần Phương, qua đời ngày 17-6-1936, Tu Viện này chỉ mới xây dựng gần hai năm đã rời bỏ Giáo phận Bùi Chu, chuyển đến Hải Dương tháng 5-1940. Ngoài Trường Thử và hai Chủng Viện lớn nhỏ, Ngài quan tâm đạo tạo bồi dưỡng bậc Thầy Giảng. Nhưng có nhiều chống đối của các GM phía Bắc, nên công việc không được xúc tiến.

  1. Xây dựng và phát triển dòng tu mới

1) GM Eugène Allys (Lý, 1852-1936) thuộc giáo phận Huế có sáng kiến xin Vatican lập một dòng Nam có tên “Anh Em Hèn Mọn Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu”, gọi tắt là Dòng Thánh Tâm, chuyên lo dậy văn hóa, giáo lý cho nam sinh. Trụ sở chính của dòng là ở làng Trường An, bên cạnh giáo xứ, năm 1923. Cơ sở dòng hoàn thành xong năm 1924, và cha Hồ Ngọc Cẩn trở thành Bề Trên đầu tiên.

Chính trong giai đoạn 1924-1935, cha Cẩn đã tích cực xây dựng cơ sở để đào luyện các tu sĩ, dồng thời mở ngay bốn Trường Sơ đẳng tiểu học tạo điều kiện cho các sư huynh có môi trường phục vụ theo lý tưởng của dòng ở tại bốn địa điểm: Trường An, Phủ Cam, Kim Long và Lại Ân. Đồng thời, để phát triển giáo dục, ngài thành lập nhà in Trường An, chuyên in các sách báo của Giáo phận Huế. Chính một số nhân vật có tiếng đã góp phần phát triển dòng Thánh Tâm, như ông Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) dâng đất đai, tiền của; LM Nguyễn Văn Thích làm Phó Bề Trên kiêm giáo sư (1891-1979); Ngô Đình Thục (1897-1984) góp phần điều hành.

2) Ngày 24-11-1941, khi đã làm Giám Mục, thì chính Ngài làm đơn xin Tòa Thánh cho lập Dòng Mân Côi và ngày 20-8-1946, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn nhận được thư phúc đáp của Bộ Truyền giáo cho phép GP lập Dòng Đức Mẹ Mân Côi (hay Hằng Cứu Giúp), được hội đồng GP hoàn toàn ủng hộ. Ngày 8-9-1946, dòng chính thức được thành lập, và khai giảng khóa Nhà Tập đầu tiên ngày 21-11-1946, có 17 nữ tu được các nữ tu Thơm và Thảo phụ trách. Dòng cứ theo đà đó mà phát triển thêm. Các công việc các nữ tu Mân Côi thường làm là dậy dỗ thiếu niên, săn sóc bệnh nhân, yềm trợ mọi công trình truyền giáo.

Nên nhớ là khi đó địa phận đang có 14 Nhà Phước, với 417 chị em thuộc dòng ba Đa Minh và dòng Mến Thánh Giá, nhưng không có lời khấn. Hai tổ chức này có từng 300 năm lịch sử, nhất là trong thời kỳ bắt đạo và thời Văn Thân. Tại miền Trung có tới 270 nữ tu Mến Thánh Giá tử đạo. Nhưng tổ chức ấy không hẳn phù hợp với những biến chuyển của thời đại mới.

Dù Tòa Thánh chưa chính thức chấp nhận, GM Hồ Ngọc Cẩn vẫn xúc tiến tổ chức Nhà Phước Trung Linh, cách Tòa Giám Mục chừng hơn một cây số, làm trụ sở tương lai của Nhà Dòng.

Như đã nói trên, hai nữ tu khấn trọn đời là Maria Thơm (Thêm) và Maria Thảo thuộc Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm phụ trách, do GM Tađêô Lê Hữu Từ cử sang giúp, dựa trên cuốn “Qui Tắc Chung” của Toà Thánh. Ngài thông báo rộng rãi trong Địa Phận và đề xuất Hội Đồng Địa Phận bỏ tiền bạc xây cất nhà và 30 mẫu ruộng làm vốn, vì dòng sẽ giúp lại cho Địa Phận sau.

Theo Huấn Dụ của Bộ Truyền Giáo ngày 19-3-1937, mỗi dòng mới lập phải có nữ tu của dòng đã được chấp nhận chính thức đến đào tạo. Hai nữ tu nhận nhiệm vụ đào tạo đó vào ngày 1-9-1946. Lúc đó GM Hồ Ngọc Cẩn chào mừng:

“Từ nay phải gọi là Thơm và Thảo, vì là của thơm thảo Đức Cha Phát Diệm cho sang giúp Bùi Chu, thì thật không còn gì thơm thảo cho bằng”.

Sáng ngày 8-9-1946, Lễ công bố sắc lệnh thánh lập dòng được tổ chức long trọng tại Nhà Nguyện của Dòng. Hôm đó là Lễ Sinh Nhật Đức Maria.

Từ đó bắt đầu có nhiều người xin nhập dòng. Ba Nhà Phước Kiên Lao, Ninh Cường và Liên Thủy xin nhập hết. Lúc đầu ai cũng hưởng ứng, nhưng có tiềng đồn là dòng mới sẽ thay thế Dòng Ba Đa Minh, nên nhiều người hoang mang. Nhưng nhiều người vẫn gia nhập dòng, bất chấp mọi tiếng thị phi.

Thấy thế, GM Hồ Ngọc Cẩn an ủi chị em:

“Như đã từng thấy trong lịch sử Giáo Hội, mỗi khi sáng lập hay cải tổ một dòng tu, ma quỷ ra sức phá, nó xúi dục những đấng quyền thế phần đời, phần đạo làm ngăn trở thế nọ thế kia, song sau cùng nó cũng thất bại”.

Người ta tiếp tục vào dòng mới và điều đó cũng mang vinh dự cho hai nữ tu Thơm Thảo.

Dòng Mân Côi khai giảng khóa Nhà Tập đầu tiên ngày 21-11-1946, với 17 nữ tu; 7 nữ khấn đầu tiên ngày 7-12-1947. Người đứng đầu trong số nữ tu ấy là Catarina Nguyễn Thị Huệ, và hai năm sau nữ tu này trở thành Bề Trên tiên khởi của “Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi” với tu phục riêng.

Mấy tháng sau, ngày 3-2-1947, Nhà Tập tổ chức khóa hai, có 26 tập sinh.

Theo luật dòng, các tu sinh phải có hai năm tập mới được khấn, nhưng khóa đầu tiên châm chước cho 7 chị em ở nhà dòng lâu năm được khấn trước một năm, nghĩa là vào ngày 7-12-1947.

Khi GM Hồ Ngọc Cẩn qua đời ngày 27-11-1948, thì dòng Mân Côi đã có 100 nữ tu!

  1. Lập hội đoàn giáo dân

Để nâng cao trình độ học vấn và đạo đức cho giáo dân, GM Hồ Ngọc Cẩn xúc tiến việc tổ chức các hội đoàn dành cho giới giáo dân. Phong trào lập hội bùng lên như vũ bão, các hội đoàn đua nhau thành hình, kết thành đoàn hùng binh tiến vào thánh đường. Trước kia, điạ phận có hội “Đồng Nhi Thiên Thần”, nhưng thiếu tổ chức thống nhất nên không thu hút được người tham gia.

1) Hội Tông Đồ Cầu Nguyện lập năm 1938, cho thanh thiếu nhi và người trưởng thành, gồm ba đoàn Tiểu, Trung, và Đại Binh. Đầu năm đó GM Hồ Ngọc Cẩn liên lạc với LM giám đốc Hội Cầu Nguyện Trung Ương ở Toulouse (Pháp) nhận ngài làm giám đốc cấp địa phận để hội chính thức được thành lập, hiệp thông các ân điển. Ngày 15-2-1938, ngài phổ biến lá thư khuyến khích các nơi lập Hội Cầu Nguyện, nhất là Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể, đồng thời cho ấn hành Bản Điều Lệ hội, chứng thư cho các Tuyên Uý, Quản Giáo, Tông Đồ và các Sổ Kho Thiêng Liêng cho các quân binh Thiếu Nhi.

2) Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể có sức cuốn hút lạ lùng: ai ai, dù là người ngoài đạo, cũng xúc động khi thấy từng đoàn từng đoàn các em cháu đua nhau làm việc nghĩa: vào thánh đường viếng Chúa Thánh Thể, sáng sáng rủ nhau đi lễ, tiếng gọi ơi ới từ làng nọ sang làng kia, phá tan cả giấc ngủ của mọi người. Ai đã từng chứng kiến cái cảnh nực cười nước măt dàn dụa: các trẻ em tranh nhau hy sinh rửa chén bát, quét nhà, xách nước, làm bao nhiêu việc nghĩa cho đời, thay vì ẩu đả, chửi tục, lêu lổng, ném rác bẩn bừa bãi,…

Trong sáu tháng, có tới 23.879 trẻ em là Nghĩa Binh Thánh Thể, con số hội viên Hội Cầu Nguyện lên tới 49.847 người. Số này tăng lên gấp đôi khi GM Hồ Ngọc Cẩn qua đời! Thất quá sức tưởng tượng, thật đầy sức thuyết phục cho nỗ lực của một người vì con người!

Đầu tháng 10-1941, một LM được bổ nhiệm làm tổng tuyên uý để hướng dẫn và giúp đỡ các đoàn thể Thiêu Nhi Thánh Thể trong các giáo xứ. Nhiều thiếu nhi, nhờ các sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể đã học tập được nhiều kiến thức và kỹ năng lãnh đạo tập thể khi trưởng thành.

Cuộc Đại Hội Thiếu Nhi Thánh Thể tổ chức ngày Lễ Thánh Thể tháng 6-1948 tại Bùi Chu (1-6), Ninh Cường (16-6), Tứ Trùng (22-6), và Giáo Lạc (22-6) do chính GM Hồ Ngọc Cẩn chủ tọa, đã lôi cuốn không biết bao nhiêu thiếu nhi. Thiếu Nhi Thánh Thể làm thành hàng rào danh dự kéo dài ba cây số cung nghinh Thánh Thể. Những cuộc đại hội đã nuôi sống và duy trì cùng phát triển tình thương yêu đoàn kết trong mọi lứa tuổi, không chỉ các thanh thiếu nhi!

3) Hội Công Giáo Nam Thanh (Thanh Niên Công Giáo nước Nam), cũng được thành lập năm 1938 qui tụ khoảng 10.000 thanh niên tại đại hội ở Phú Nhai, do chính GM Hồ Ngọc Cẩn chủ trì.

Cuối năm 1935, với khả năng hùng biện, GM Hồ Ngọc Cẩn đã diễn thuyết cho giới thanh niên Nam Định, và được hoan nghênh nhiệt liệt. Những bài diễn thuyết ngay sau đó được ấn hành làm tài liệu học tập cho thanh niên. Tháng 10-1936, Ngài tham dự Đại Hội Thanh Niên Công Giáo ở Nam Định, và nhân cơ hội đó thức tỉnh giới thanh niên Bùi Chu. Thế là nhiều đoàn thể thanh niên lần lượt được thành lập. Ngày 8-6-1937, chính Ngài phát động phong trào xây dựng thanh niên thành những tổ chức, bằng việc phổ biến một lá thư kèm theo bản điều lệ kêu gọi thanh niên và mọi người trưởng thành tham gia các đoàn thể. Nếu thiếu nhi là tương lai của Tổ Quốc và Giáo Hội, thì thanh niên là sức mạnh hiện tại của giang sơn và cộng đoàn dân Chúa. Con số 10.000 thanh niên Nam Thanh được tổ chức đã chọn Thánh Giuse làm Đấng Bảo Trợ.

Ngày 30-4-1939, nhân dịp Lễ Thánh Giuse, quan thầy Nam Thanh, có 2.500 thanh niên, các đoàn thể của nhiều giáo phận, có nhiều người là đại biểu từ Hà Nội, Phát Diệm, Thái Bình, Hải Phòng đã về tham dự Đại Hội Thanh Niên ở Phú Nhai, do chính GM Hồ Ngọc Cẩn chủ tọa. Trong đại hội đó, GM Nguyễn Bá Tòng diễn thuyết hùng hồn về: “Nghĩa vụ thanh niên đối với Bản thân, Tổ quốc và Giáo hội”. Mọi người có mặt ở Đại Hội, giáo sĩ cũng như giáo dân, đều đồng lòng liên kết các đoàn thể trong một tổ chức thống nhất là Liên Doàn Thanh Niên Toàn Quốc.

Đầu tháng 10-1942, mỗi đia hạt có một LM Tuyên úy thanh niên; đứng đầu là một LM Tổng cục Tuyên úy Đông Dương, giúp hình thành các tổ chức thanh niên nông thôn. Khi đó LM Lâm Quang Trọng làm Tổng cục Tuyên úy, có các Ban Tổ Chức, Tài Chính và Chấp Hành trợ giúp. Lãnh đạo Ban Chấp Hành là anh Gioan Lưu Ngọc Văn.

Tháng 10-1946, một trại Huấn Luyện các thủ lãnh thanh niên mang tên Hồ Ngọc Cẩn được rầm rộ tổ chức tại Hải Hậu, qui tụ nhiều thanh niên ưu tú. Nhiều người tham gia “Mặt Trận Công Giáo Cứu Quốc” năm 1946-1948.

4) Hội Dòng Ba Đa Minh, cho người trưởng thành, để cầu nguyện, yểm trợ cho các công tác của giáo phận.

5) Ban Truyền Giáo GP, lập năm 19452, do linh mục Trần Đình Thủ quản nhiệm với 12 thầy giảng, nhằm đôn đốc và thúc đẩy việc truyền bá Tin Mừng, phát triển phong trào Tông Đồ Gáo Dân. Ngài cũng lập các hội đoàn biên soạn sách giáo lý, mở tuần thi kinh bổn, tổ chức nhiều tuần tĩnh tâm và chấn hưng lễ nghi ca nhạc phụng vụ.

  1. Hoạt động văn hóa

1) Là một cây bút dài hơi, không biết mệt mỏi, để đào tạo các chủng sinh, GM Hồ Ngọc Cẩn đã lần lượt cho phát hành hàng loạt các cuốn sách có giá trị cao về giáo khoa, sư phạm. Điều ấy chứng tỏ ngài có khả năng làm việc trí thức và giáo dục hết sức kiên trì.

2) Trong lãnh vực tu đức, truyền giáo, GM Hồ Ngọc Cẩn còn là tác giả nhiều sách giáo lý và tu đức, như ta xem trong bảng liệt kê cuối bài viết dưới dây.

Nói chung GM Hồ Ngọc Cẩn cho xuất bản đến cả trăm đầu sách khác nhau về nhiều đề tài. Trong thời gian cộng tác với Báo Vì Chúa (xuất bản ở Huế), Tập San Đa Minh (ở Bùi Chu), rồi Tuần Báo Nam Kỳ Địa Phận, tác giả Hồ Ngọc Cẩn viết thật dồi dào dưới nhiều bút danh, như: Ngô Ký Ẩn, Ngô Tri Dược, Ngô Ký Vãng, Ngô Tri Lễ …

Ngài sáng lập nhà in Thánh gia – Bùi Chu, để in và phổ biến nhiều tài liệu sách báo của giáo phận.

Ngài làm Chủ bút Tạp Chí Đa Minh Bán Nguyệt.

  1. Những hoạt động xã hội từ thiện

1) Về hoạt dộng xã hội, GM Hồ Ngọc Cẩn cho lập Bệnh Viện Thánh Tâm ở Bùi Chu, giao cho các nữ tu Dòng Thánh Phaolô phụ trách, kiên trì chủ trương khám bệnh, phát thuốc và điều trị miễn phí cho toàn thể các bệnh nhân không phân biệt lương giáo

Ngài còn ra lệnh cho Sở Dục Anh, Sở Cô Nhi ở Bùi Chu, Quỹ Nhà Chung cứu đói cho nhiều nạn nhân của nạn đói năm Ất Dậu (1945), nhất là cả ngàn trẻ em cô nhi. Chính tay ngài săn sóc cho các bệnh nhân, xuất quỹ chung chống lũ lụt, hỏa tai, đói kém ở Kiên Chính, Quần Liêu, Trung Lao và Bắc Ninh. Ngài coi cứu trợ chỉ là giải pháp tình thế nhất thời, nên chú trọng gửi thư luân lưu gây ý thức chống ruợu chè, trộm cắp, nhất là thư luân lưu “Thủy Hỏa Đạo Tặc” nổi tiếng mà nhiều người còn nhớ mãi.

2) Một điểm sáng chói trong sự nghiệp thương người, yêu nước tinh túy cao đẹp của Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn là biến cố lớn năm 1945. Sau ngày kháng chiến thành công, giành được độc lập, dù do phong trào VM có vai trò tạm thời trọng yếu, đất nước lâm cảnh khó khăn về kinh tế tài chính. Thấy Ngài là người nhiều tài năng và nhiệt huyết qui tụ người, thành lập, tổ chức các đoàn thể cho từng giới người, Tổ chức chính quyền thấy đó là một thiên tài lãnh đạo nên đã tha thiết mời ngài tham gia chính phủ!

Chính phủ nước VNDCCH mới tổ chức Tuần Lễ Vàng, kêu gọi toàn dân đóng góp xây dựng ngân quỹ quốc gia. Trong cuộc mít-tinh đông đảo tại sân vận động Xuân Trường, GM Hồ Ngọc Cẩn tiến lên khán đài dõng dạc tuyên bố:

“Tôi không có gì quý hơn của này. Là GM Thiên Chúa, tôi xin giữ lại Cây Thánh Giá. Là công dân Việt Nam, tôi xin dâng dây vàng này vào Quỹ Quốc Gia để góp phần bảo vệ đất nước”

Lòng yêu nước thiết tha nồng nàn, tinh thần dân tộc thuần túy, không mang màu sắc CS của GM Hồ Ngọc Cẩn là một trong những lý do như nói trên đã khiến CT Hồ Chí Minh chọn mời ngài làm một trong những Cố Vấn Tối Cao của Chính Phủ Hồ Chí Minh hồi năm 1945.

Thư của CT Hồ Chí Minh ngày 23-10-1946 gửi GM Hồ Ngọc Cẩn chứng tỏ Chính Phủ VNDCCH quan tâm cách riêng đến GM Hồ Ngọc Cẩn và cách ân cần đến cộng đoàn Công Giáo (4):

“Chủ Tịch nước VNDCCH: Kính gửi cụ Hồ Ngọc Cẩn

Tôi đi vắng mấy tháng luôn luôn nhớ cụ. Nay về đến nước nhà vội vàng viết mấy dòng hỏi thăm cụ và tất cả đồng bào Công giáo. Lúc ở Pháp tôi có gặp ít anh em Công giáo ta và các cháu đang học ở các nơi cũng có đến Paris thăm tôi, cảm tình rất mật thiết. Đại biểu thanh niên Công giáo và một vài lãnh tụ Công giáo Pháp đến thăm tôi. Các bạn đó đối với cuộc vận động Độc Lập của ta cũng rất đồng ý. Họ rất tán thành chính sách “tự do tín ngưỡng”, “toàn dân đoàn kết” của chính phủ ta. Chúc cụ mạnh khỏe luôn và xin cụ chuyển lời chào thân ái cho tất cả đồng bào Công giáo. (ký tên) Hồ Chí Minh (5)”

3) Mấy năm cuối đời, GM Hồ Ngọc Cẩn hay nhắc đến câu “Lão tai tài vận”, nhưng Ngài vẫn miệt mài lóc cóc trên chiếc máy chữ, biên soạn lịch sử Chủng Viện Ninh Cường, soạn bài giảng, viết sách báo,… Ngài có nghĩ đến chuyện về hưu để khỏi phiền cho vị kế nhiệm. Ngài hay khen Linh Mục Phạm Ngọc Chi, khi đó làm Giám đốc ĐCV Phát Diệm.

Ngày 26-11-1948, khi GM Nguyễn Bá Tòng về thăm, hai vị tâm đắc hàn huyên và khi chiều đến, dường như GM Hồ Ngọc Cẩn thốt ra những lời trăn trối cuối cùng:

“… Tôi xin Đức Cha và mọi người tha những lỗi lầm của tôi. Trong khi coi sóc Địa Phận, tôi có làm mích lòng ai, mặc dù tôi không chủ ý, thì xin bỏ qua cho hết. Tôi xin dâng mạng sống này, để cầu cho địa phận được mọi sự lành. Xin mọi người nhớ cầu nguyện cho tôi luôn (6)”

GM lãnh nhận nhiệm tích xức dầu bệnh nhân tỉnh táo, rồi mê man. Đến 23 giờ, ngài tỉnh hơn, cầu nguyện theo lời Kinh “Phó thác linh hồn” mà các Cha ở gần kề bên giường bệnh đọc chậm rãi bằng tiếng Latinh.. Ngài qua đi như một giấc ngủ nhẹ nhàng.

Thật là một cử chỉ thân ái theo ngôn từ bên ngoài, đáng ghi nhớ vô hạn, dù vì bất cứ lý do gì: vào tháng 11 năm 1948, nhân khi biết tin GM Hồ Ngọc Cẩn chết, Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi một bức thư chia buồn cùng giáo dân Bùi Chu, như sau:

“Kính gửi TGM Bùi Chu, Nam Định.

Tôi lấy làm đau đớn được tin Đức Giám Mục HỒ NGỌC CẨN đã từ trần. Vị chiến sự, tôi không thể về để dự lễ an táng Đức Giám mục được. Tôi nhờ Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Liên Khu III, đại diện xuống chia buồn thay tôi và chính phủ Việt Nam, tới dự tang lễ và chia buồn cùng Tòa Giám Mục”.

GP Bùi Chu được GM Lê Hữu Từ giám quản đến ngày 3-2-1950, thì LM Phạm Ngọc Chi được bổ nhiệm GM kế vị Bùi Chu.

GM Hồ Ngọc Cẩn là một công dân sống rất cởi mở, yêu Chúa, yêu nước rất chân thành, đậm đà bản sắc quê hương Việt Nam, yêu tiếng mẹ đẻ vô ngần. Giám Mục chủ trương đem Đạo vào đời, trung thành với Thiên Chúa, nhưng không quên nghĩa vụ làm công dân một nước đang bị ngoại nhân cai trị, chia sẻ những ưu tư giành quyền độc lập của cộng đồng dân tộc, nâng cao dân trí, chia sẻ cơm áo, vì nhân phẩm của con người Việt Nam. Ở nơi con người Hồ Ngọc Cẩn, chỉ có một nhân cách: người tín đồ Kitô (hơn thế, một mục tử) sốt sắng nhiệt thành và người công dân thắm đặm tình yêu nước thương dân thật lòng, ngay chính, bền vững.

 

  1. Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn, Bùi Chu – Sài Gòn – Gia Định

Sau khi GM Hồ Ngọc Cẩn từ trần, nhớ đến công lao của ngài và ý chí tha thiết của ngài muốn mở mang trí tuệ, nâng cao trình độ kiến thức và óc phán đoán chân chính cho mọi người Việt Nam nói chung và cho giáo dân Công giáo nói riêng, nhất là những người thuộc phạm vi ngài có trách nhiệm quản lý, bằng con đường văn hóa giáo dục, nên Giáo phận Bùi Chu đã thành lập ngôi trường đầu tiên mang tên ngài, nêu gương học vấn miệt mài cho các thế hệ công dân hậu sinh, sống một cách sinh động thế nào là “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” như truyền thống cao đẹp của tổ tiên Con Rồng Cháu Lạc đã dậy dỗ bao đời.

Nhà trường được hình thành ở trong giáo phận Bùi Chu trước 1954. Nhưng biến cố 20-7-1954 đã làm cho nhiều linh mục cũng như giáo dân của trường đã di chuyển vào nam vĩ tuyến 17. Nhiều giáo sư cũng như học sinh của nhà trường này, cả những tín đồ Công giáo cũng như không Công giáo, cũng vào Nam. Họ muốn tìm một địa điểm tạo nên cơ sở mới để qui tụ lại những giáo sư cũng như các học sinh cũ, và đồng thời thu nhận những học sinh khác trong ngôi trường mang tên Hồ Ngọc Cẩn, phát triển tinh thần nhà trường ở vùng Sàigòn-Gia Định.

Thế là có lẽ chủ yếu các linh mục, giáo sư, nhân sĩ,… gốc Bùi Chu đã có sáng kiến vận động với chính quyền Sài Gòn để có trụ sở tại số 1 đường Lê Quang Định, Gia Định, thiết lập cơ sở mới cho trường Hồ Ngọc Cẩn “di cư”. Một thời gian sau, nhà trường được giao cho Bộ Quốc Gia Giáo Dục của chính quyền Sài Gòn quản lý và biến thành trường công lập, nhưng vẫn mang tên và tinh thần Hồ Ngọc Cẩn cho tới sau 30-4-1975. Chế độ mới trước hết đã đổi tên thành trường Nguyễn Đình Chiểu. Tôi nghĩ là không nên thay đổi danh thơm của Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn cho ngôi trường lịch sử này, vì tư cách mến Chúa yêu người chân thành và rõ ràng của con người xuất chúng gương mẫu này. Hoạt động được một thời gian, cơ sở của nhà trường được chuyển sang hệ trường tiểu học thuộc quyền quản lý của cơ cấu giáo dục mới.

Thiết tưởng các thân hữu Trường Trung Học Hổ Ngọc Cẩn kiên trì mãi tinh thần yêu nước thương dân rất sống động trong từng biến cố xã hội của đất nước ở giữa các đồng bào Việt Nam nơi hải ngoại cũng như ở trong nước ta mãi cho đến nay.

 

PHẦN CHÚ THÍCH

(1) Theo sự hiểu biết của GS Vũ Đức Thịnh, tên này chính là Can.

(2) Tôi không ngại kể đến chi tiết này đối với một vị Giám Mục có tính tình thích bông lơn mà không mất lòng trọng kính đối với tên Ca: vì mang tên Ca, các bạn hữu trêu ghẹo gọi Thầy là “Caca”. Trong tiếng Pháp ai cũng có thể hiểu “Caca” nghĩa là gì!

Người ta còn nói đến một giai thoại khác chung quanh cái danh xưng Hồ Ngọc Cẩn. Trước khi chịu chức Phó Tế, Thầy Can được đổi thành Cân. Cái tên đó chỉ có nghĩa là cái Mũ (^). Tên mới ấy mang nhiều điềm lành đến cho Thầy Cân. Khi Thầy Cân thụ phong Linh Mục, thì Ngài chính thức có tên là Cẩn, có nghĩa là vị linh mục (đã có mũ rồi) chắc phải có thêm cây gậy (?) và người ta đồn thổi chắc chắn Linh Mục Hồ Ngọc Cẩn sẽ làm Giám Mục!

(3) Theo những ký ức bổ sung của GS Vũ Đức Thịnh, chúng ta ghi lại một số chi tiết về địa danh về này:

Sông Hồng trước khi đổ ra Biển Đông chảy qua Tỉnh Thái Bình ở tả ngạn và Tỉnh Nam Định bên hữu ngạn. Ở vùng Nam Định trước khi đổ ra Cửa Ba Lạt, sông Hồng chảy qua huyện Trực Ninh (phủ Xuân Trường), huyện Giao Thủy. Giữa Trực Ninh và Xuân Trường, sông Hồng làm thành Ngã Ba với sông Ninh Cơ.

Chính ở Ngã Ba này thuộc phạm vi phủ Xuân Trường có xã Ngọc Cục; kế đến là xã Hành Thiện men theo ven sông Hồng. Theo sông Ninh Cơ tiếp giáp với Ngọc Cục, là các xã Lục Thủy, Liên Thủy, Bùi Chu, Trung Linh, Xuân Bảng. Ở khoảng giữa đường đi từ Trung Linh đến Xuân Bảng, có đường đi tới Phú Nhai, nơi tọa lạc ngôi Nhà Thờ có qui mô có thể lớn nhất Việt Nam.

Sông Ninh Cơ chảy theo phủ Xuân Trường đến huyện Hải Hậu có hai xã Ninh Cường và xã Quần Phương. Hữu Ngạn sông Ninh Cơ là huyện Trực Ninh, phủ Nghĩa Hưng. Qua Nghĩa Hưng là tới sông Đáy.

Ở hữu ngạn sông Đáy, có xã Phát Diệm huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình. Bùi Chu và Phát Diệm chính là tên của hai giáo phận Công giáo có Tòa Giám Mục được đặt tại xã Bùi Chu và Phát Diệm. Chính những địa danh này là những vườn ươm trồng đức tin Công giáo lâu đời nhất ở Đồng Bằng Sông Hồng mà Cương Mục nhắc tới ở năm 1533, đời Lê Trang Tôn.

(4) Có thể hoàn toàn với tính cách chiến thuật, nghĩa là cần chinh phục khối người Công giáo! Sự tham gia hết mình này càng chứng tỏ sự thanh sạch trong hành động yêu dân tộc, yêu tổ quốc vì chính nghĩa đúng đắn! Đồng thời nói lên sự lợi dụng phong trào yêu nước chống thực dân của người Công giáo, trái với mọi xuyên tạc cho người Công giáo làm tay sai cho thực dân đế quốc!

(5) Bản thân người viết chưa có điều kiện xác minh tính chính xác của tài liệu này. Tạm thời, nếu đây là tài liệu được viết vào đúng thời gian đó (1945-1948), ta có thể tin rằng tâm trạng của nhiều người đương thời vẫn nghĩ rằng VM có tinh thần kháng chiến dân tộc chân chính, mà chưa mang màu sắc CS! Điều đó giải thích có nhiều người lúc đầu đơn thành tham gia theo kháng chiến VM, không nghĩ là mình bị lừa dối!

(6) Xin xem chú thích đdt.

MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Bích, Lê Ngọc, Nhân Vật Công Giáo Việt Nam: Tập Bốn – Các Vị Giám Mục Một Thời Đã Qua (1933-1995), 364 tr., 14.5x20cm. “Giám Mục Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (1876-1935-1948)”, tt. 62-76

– Bích, Lê Ngọc, Nhân Vật Giáo Phận Huế. Tập II. Biên soạn với sự cộng tác của Ban Truyền thống giáo phận, kỷ niệm 150 năm GP Huế, 1850-2000. Lưu hành nội bộ. Huế, 2000, 298t., 20X29cm. “Đức Giám Mục Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (1876-1936-1948)”, tt. 131-141.

– Chu, Trần Quang, Giáo phận Huế (1850-2000) – Hành Hương Giáo Phận – Tập III. Từ lúc trưởng thành đến hiện nay. Lưu hành nội bộ. Huế, 2000, 382t, 14.5×20.5cm. “B2. Đức Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (6) (GM Thứ Nhất gốc GP Huế), Giám Mục GP Bùi Chu.” tt. 17-19.

– CG&DT: “Bác Hồ với Đồng Bào Công Giáo”. Tuần Báo CG&DT, Số Xuân Canh Ngọ 1990 tt. 11-14.

– Con Đức Mẹ Mân Côi, Dòng, Tưởng Niệm và Tri Ân ĐC Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, 1876-1948.

– Diên, Phạm Châu, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn. HCM, Tủ Sách Ra Khơi, 1990.

– Hội, Nguyễn Văn, Văn Phòng Tòa Tổng Giám Mục Huế: Tiểu Sử các Linh Mục Giáo Phận Huế. Huế, 1981. Tài liệu đánh máy.

– Hồng Nhuệ, “Những Bút Danh của Đức Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn”. CG&DT số 69 (VI-2002), tt. 108-112.

– Hườn, Phan Phát CssR.: Việt Nam Giáo Sử. Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư. Quyển II (1933-1960), 1962, In lần 1, 590tr., 15×22, 5cm.

– Nam Kỳ Địa Phận, Tuần Báo. Số 1351, ra ngày 16-.05-1935.

– Nam Kỳ Địa Phận, Tuần Báo. Số 1148, ra ngày 08-04-1937

– Sinh, Bùi Đức, Dòng Đa Minh Trên Đất Việt. Q II. Sài Gòn, 1967

– Hội Đồng Giám Mục Việt Nam: Việt Nam Công Giáo Niên Giám 1964. Sàigòn, 1965.

– Tín, Lê Hữu, CG&DT số 7 (21-27/08/1975)

– Gouvernement Général de l’Indochine, Notabilités Indo-chinoises.

– Việt, Hoàng Xuân, Tuyển Tập Thần Học số tháng 06-1993. HCM, UBĐKCG Tp HCM, 1993.

– Viết xong cơ bản. Kỷ niệm Ái Hữu Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn Bùi Chu – Gia Định, 1950-1975.

CHÚ THÍCH BỔ SUNG

Có sửa chữa bổ sung nhờ nhiều tư liệu và góp ý sống động quí báu của cựu GS Giám Học Hồ Ngọc Cẩn, Vũ Đức Thịnh ở Lục Thủy (1949), Trung Linh (1950-1954), Sàigòn (1954-1956) và Gia Định (1956-1975) liên quan đến Tiểu Sử GM Hồ Ngọc Cẩn. Đóng góp trực tiếp trên bản viết của ĐHN: “Vài hàng Tiểu Sử Giám Mục Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948)”. Sàigòn, 2/1/2003, đánh máy vi tính trên giấy A4, 16t. Xin đặc biệt cám ơn GS Vũ Đức Thịnh đã xem lại và góp ý kiến bổ sung hoàn chỉnh

Chúng tôi sẽ khai triển tư liệu về Tiểu Sử Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn trong một dịp rất gần đây (Vũ Đức Thịnh: “Đóng góp ý kiến với Thày Nghiêm về Tiều Sử Trường Hồ Ngọc Cẩn. Gia Định”. SGN ngày 19/11/2003, 5 trang viết tay, 21x27cm.)

Ở Hoa Kỳ, khi chúng tôi viết xong bài nghiên cứu này, thì được biết GS Nguyễn Lý Tưởng có viết bài “Đức Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948): Một Nhà Văn Hóa Giáo Dục Lớn của Tiền Bán Thế Kỷ XX”. Đặc San NINH CƠ năm 2002, tt. 230-244, 390t, 15X26cm và KỶ YẾU HỒ NGỌC CẨN, TRUNG LINH BÙI CHU; HOA KỲ, Cali, 1997, 232t.

Khảo chứng và hiệu chính thêm tại Dayton, OH ngày 19-3-2005. Xem xét, bổ sung thêm ngày 7-4-2006. Đỗ Hữu Nghiêm. 

Đỗ Hữu Nghiêm (tổng hợp)

Bài mới

Cầu Nguyện Với Chuỗi Tràng Hạt Mân Côi

GB. Bùi Tuần---Tôi tha thiết cầu mong chuỗi tràng hạt mân côi sẽ được mọi con cái Mẹ ở khắp nơi giữ bên mình với hết lòng tin tưởng cậy trông.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *